Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người
(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT IV.
Những Nghi Vấn Liên Quan Đến Những Hoạt Động Của Khả Năng Nhận thức
PHẦN I.
E 4. 1, SBN 25
TẤT CẢ những đối tượng của lý trí hay sự tìm
hiểu của con người có thể tự nhiên chia thành hai loại, cụ thể là, Những
Quan Hệ Của Những Ý Niệm và Những Sự Kiện Thực Tế. Thuộc loại thứ
nhất là những khoa học như Hình học, Đại số học và Số học; và tóm lại, tất cả những
khẳng định, vốn chắc chắn. hay bằng trực giác hay bằng chứng minh. Rằng bình
phương của cạnh huyền bằng tổng số bình phương của hai cạnh
[góc vuông], là một mệnh đề, vốn diễn đạt một tương quan giữa những số lượng này. Rằng ba
lần năm bằng một nửa của ba mươi, diễn đạt một tương quan giữa những
con số này. Những mệnh đề thuộc loại này đều được tìm thấy chỉ bằng hoạt động
của suy nghĩ, không tùy thuộc trên những gì hiện hữu ở bất kỳ nơi đâu trong vũ trụ. Dù
chưa bao giờ có một hình tròn hay một tam giác trong tự nhiên, nhưng những sự
thật, đã được Euclid chứng minh, sẽ mãi mãi giữ vững tính chắc chắn và hiển
nhiên của chúng. [1]
E 4. 2, SBN 25-6
Những Sự Kiện Thực Tế, vốn là những đối tượng thứ hai của lý trí con người, đều không biết
chắc chắn được theo cùng cách thức; và bằng chứng của chúng ta về sự thực của
chúng, dù lớn đến đâu, cũng không có cùng một bản chất giống với loại bằng
chứng đã nói ở trên. Ngược
lại của mọi sự kiện thực tế đều vẫn có thể có được, vì nó có
thể không bao giờ hàm ý một mâu thuẫn, và được não thức hình dung với cùng sự
dễ dàng và rõ ràng, như thể nó luôn phù hợp với thực tại. Rằng mặt trời sẽ
không mọc vào ngày mai là một mệnh đề không kém phần có thể hiểu được, và
không hàm ý mâu thuẫn nào hơn, so với sự khẳng định rằng, nó sẽ mọc. Do
đó, chúng ta sẽ uổng công nếu cố gắng chứng minh sự sai lầm của mệnh đề ấy bằng
chứng minh tất yếu. Bởi nếu nó sai một cách tất yếu theo nghĩa chứng minh được, [2] thì nó phải hàm chứa một mâu thuẫn, và trí óc không bao giờ có thể hình
dung rõ ràng được nó [3]
E 4. 3, SBN 26
Do đó, có lẽ đây
là một đề tài đáng để tò mò hiếu kỳ, khi khảo cứu bản chất của loại bằng chứng nào bảo đảm
cho chúng ta về sự hiện hữu thực và những sự kiện thực tế vượt ra ngoài chứng
thực trực tiếp của giác quan hay những ghi chép của trí nhớ. Phần triết học
này, như có thể nhận thấy, từ trước đến nay ít được vun trồng, cả bởi những
triết gia xưa lẫn hiện đại; vì vậy, những hoài nghi và sai lầm của chúng ta
trong khi theo đuổi một cuộc khảo cứu quan trọng như vậy có lẽ càng đáng được
tha thứ hơn, khi chúng ta phải bước đi trên những con đường khó khăn nhưng
không có người dẫn đường hay hướng dẫn nào. Ngay cả những hoài nghi ấy còn có
thể hữu ích: chúng khơi dậy sự tò mò và phá vỡ tin tưởng phó mặc cùng sự an tâm
tự mãn, vốn là tai họa của mọi suy luận và mọi khảo cứu tự do. Việc tìm ra
những thiếu sót trong triết học thông thường, nếu quả thật có những thiếu sót
như vậy, theo tôi nghĩ sẽ không phải là điều làm nản lòng, mà ngược lại, như
thường thấy, là một sự khích lệ để cố gắng tìm kiếm một cách giải thích đầy đủ
và thỏa đáng hơn so với bất cứ những gì đã từng được trình bày trước công chúng.
E 4. 4, SBN 26-7
Tất cả những suy luận liên quan đến sự kiện
thực tế dường như đều được dựng trên tương quan của Nguyên Nhân và Hậu Quả. Chỉ
nhờ tương quan đó, chúng ta có thể vượt xa hơn bằng chứng của trí nhớ và giác
quan chúng ta . Nếu bạn hỏi một người, tại sao người này tin vào bất kỳ sự kiện
thực tế nào vốn không có mặt trước mắt [4], thí dụ, rằng bạn
của người này sống ở một miền quê hay ở nước Pháp; người này sẽ cho một lý do;
và lý do này sẽ là một sự kiện nào đó khác; như một lá thư đã nhận được từ
người bạn, hay việc biết được ý định và hứa hẹn trước đây của người bạn đó. Một
người, sau khi tìm thấy một đồng hồ hay bất kỳ một máy móc nào khác trên một
đảo hoang, sẽ kết luận rằng đã từng có người trên đảo đó. Tất cả những lý luận
của chúng ta liên quan đến sự kiện đều có cùng bản chất như vậy. Và ở đây,
người ta liên tục giả định rằng có một sự liên kết giữa sự kiện hiện tại và những gì vốn được suy ra
từ nó. Nếu như không có gì buộc chúng với nhau, thì suy luận sẽ hoàn toàn bấp
bênh. Việc nghe thấy một giọng nói rõ ràng và một đàm luận hữu lý trong bóng
tối bảo đảm cho chúng ta về sự hiện diện của một người nào đó. Tại sao? Bởi vì
những hậu quả tất yếu từ cấu tạo và bản chất con người, [5], và liên
kết chặt chẽ với bản chất đó. Nếu chúng ta mổ xẻ tất cả những suy luận khác có
cùng bản chất này, chúng ta sẽ tìm thấy rằng, chúng được xây dựng trên tương
quan giữa Nguyên nhân và Hậu quả, và rằng tương quan này có thể là gần hay xa, trực
tiếp hay gián tiếp. Sức nóng và ánh sáng là những hậu quả song hành của lửa, và
người ta có thể chính đáng suy ra hậu quả này từ hậu quả kia.
E 4. 5, SBN 27
Do đó, nếu chúng ta muốn tự làm rõ bản chất
của bằng chứng đó, vốn bảo đảm cho chúng ta về những sự kiện thực tế, chúng ta
phải khảo cứu xem chúng ta đạt được sự hiểu biết về quan hệ Nguyên nhân – Hậu quả. như thế nào.
E 4. 6, SBN 27
Tôi sẽ đánh bạo khẳng định như một mệnh đề tổng
quát không có ngoại lệ, rằng sự hiểu biết về tương quan này, trong bất kỳ trường hợp nào, đạt được
không bằng
những suy luận tiên nghiệm; nhưng hoàn toàn nảy sinh từ kinh nghiệm, khi
chúng ta thấy rằng bất kỳ những đối tượng cụ thể nào cũng luôn luôn liên kết chặt chẽ với nhau.
Hãy đưa một đối tượng đến trước mặt một người, dù người này có năng lực và
lý trí bẩm sinh mạnh mẽ đến đâu đi nữa; nếu đối tượng đó hoàn toàn mới lạ với người
này, dù bằng sự xem xét chính xác nhất những phẩm chất cảm thụ của nó, người
này sẽ không thể tìm ra bất kỳ nguyên nhân hay hậu quả nào liên quan đến đối tượng đó.
A-đam dù
giả định có những khả năng lý trí toàn hảo về mọi mặt ngay từ đầu, cũng không
thể suy ra từ tính trôi chảy và trong suốt của nước rằng nó sẽ làm ông ngạt thở, hay từ ánh
sáng và hơi nóng của lửa rằng nó sẽ thiêu hủy ông. [6] Không đối tượng nào,
chỉ qua
những thuộc tính cảm thụ xuất hiện trước giác quan, có thể tiết lộ về những nguyên nhân
đã tạo ra nó, hay những hậu quả sẽ nảy sinh từ nó; cũng như lý trí của chúng
ta, nếu không được kinh nghiệm giúp đỡ, không bao giờ có thể rút ra được bất kỳ
suy diễn nào liên quan đến sự hiện hữu thực sự, và sự kiện thực tế.
E 4. 7, SBN 28
Mệnh đề này, rằng những nguyên nhân và
những hậu quả đều có thể tìm ra được, không bằng lý trí, nhưng bằng kinh nghiệm,
sẽ sẵn sàng được chấp nhận với những đối tượng như vậy, vốn chúng ta từng nhớ
là đã hoàn toàn xa lạ với chúng ta ; bởi chúng ta phải ý thức được lúc đó chúng
ta rơi vào bất lực hoàn toàn trong việc tiên đoán những gì sẽ nảy sinh từ chúng. Hãy đưa hai miếng
đá cẩm thạch mặt nhẵn nhụi cho một người, người không có chút hiểu biết nào về khoa học tự nhiên [7]; người này sẽ không bao giờ tìm ra. chúng sẽ dính chặt vào nhau đến
mức phải dùng một lực rất lớn mới có thể tách chúng ra theo theo phương thẳng góc, trong khi chúng
tkháng cự rất nhỏ với một lực trượt ngang. Những sự kiện như vậy, ít có tương đồng với giòng chảy thông thường
của qui luật tự nhiên, cũng dễ dàng được nhìn nhận là chỉ có thể biết được qua
kinh nghiệm; và không ai tưởng tượng rằng sự phát nổ của thuốc súng, hay sức
hút của nam châm, có thể được tìm ra bằng những lập luận tiên nghiệm.
Tương tự như vậy, khi một hậu quả được cho là tùy thuộc vào một vào một bộ máy
phức tạp hay cấu trúc bí ẩn gồm những phần, chúng ta không
ngần ngại gán tất cả hiểu biết của cúng chúng ta về nó cho kinh nghiệm.
Có ai dám khẳng định rằng họ có thể đưa ra luận cứ tối hậu giải thích tại sao
sữa hay bánh mì là nguồn dinh dưỡng phù hợp cho một con người, chứ không phải cho một con sư
tử hay một con hổ?
E 4. 8, SBN 28-9
Nhưng cùng một sự thực đó, thoạt nhìn đầu tiên, có thể
không hiện ra là có cùng bằng chứng liên quan với những sự kiện, vốn đã thành quen thuộc với chúng ta
từ lần xuất
hiện đầu tiên của chúng ta trên thế giới, vốn chúng mang một tương đồng chặt chẽ với toàn
bộ dòng chảy của tự nhiên, và được giả định là tùy thuộc vào những phẩm chất
đơn giản của những đối tượng không có sự sắp đặt bí mật nào của những bộ phận bên trong.
Chúng ta thường có khuynh hướng tưởng tượng rằng chúng ta có thể tìm ra được những hệ quả này chỉ
thuần bằng hoạt động của lý trí chúng ta, không cần kinh nghiệm. Chúng ta võ
đoán rằng, nếu thình lình được đưa vào thế giới này, ngay trong lần đầu tiên chúng ta đã có thể suy luận
rằng một quả bi-da sẽ truyền chuyển động cho quả bi-da khác khác qua đối lực va
chạm; và rằng chúng ta không cần phải chờ đợi sự kiện đó diễn ra mới có thể
tuyên bố chắc chắn về nó. Thế đó là ảnh hưởng của thói quen, ở chỗ nó mạnh nhất,
khiến nó
không chỉ che đậy sự ngu muội tự nhiên của chúng ta, nhưng còn che giấu chính nó, và làm như nó không xảy ra, chỉ đơn giản vì
nó được tìm thấy ở mức độ thuần thục nhất. [8]
E 4. 9, SBN 29
Nhưng để thuyết phục chúng ta, rằng tất cả
những định luật tự nhiên, và tất cả những hoạt động của những vật thể, đều được
biết chỉ qua kinh nghiệm, với không ngoại lệ, có lẽ những suy ngẫm sau đây là
đủ. Nếu như có bất kỳ một đối tượng nào được đưa ra trước mặt chúng ta, và nếu đòi chúng ta
tuyên bố về tác dụng, vốn sẽ là hậu quả đến từ nó, nhưng không nghĩ đến những quan sát
quá khứ; tôi xin hỏi bạn, não thức phải tiến hành hoạt động này theo cách
nào? Nó phải tạo ra hay tưởng tượng ra một sự kiện nào đó, rồi gán sự kiện
ấy cho đối tượng như hậu quả của đối tượng đó; và rõ ràng là việc tạo ra này
hoàn toàn tùy tiện. Não thức không bao giờ có thể tìm thấy hậu quả trong nguyên
nhân được giả định là có, cho dù có tiến hành sự xem xét và điều tra kỹ lưỡng nhất. . Vì hậu quả
hoàn toàn khác với nguyên nhân, và do đó không bao giờ có thể được tìm ra trong chính nguyên nhân ấy.
Chuyển động của quả bi-da thứ hai là một sự kiện hoàn toàn tách biệt với chuyển động
của quả
bi-da thứ nhất; cũng không có bất cứ gì trong quả bi-da này gợi lên dù chỉ một
gợi ý nhỏ nhất về quả bi-da kia. Một hòn đá hay một miếng kim loại được đưa lên
không trung, và buông ra không có gì nâng đỡ, sẽ lập tức rơi xuống: Nhưng để
xem xét vấn đề theo tiên nghiệm, liệu có bất kỳ một gì chúng ta tìm ra
được trong hoàn cảnh này, vốn có thể sinh ra ý niệm về một chuyển động đi
xuống, thay vì một đi lên, hay bất kỳ chuyển động nào khác của hòn đá hay miếng
kim loại?
E 4. 10, SBN 29-30
Và vì sự tưởng tượng hay kiến tạo đầu tiên một hậu quả cụ thể, trong
tất cả những hoạt động của tự nhiên là tùy tiện chủ quan, khi chúng ta không nghĩ đến kinh nghiệm; nên chúng
ta cũng phải coi sự ràng buộc hay sự liên
kết giả định giữa nguyên nhân và hậu quả — vốn được cho là
liên kết chúng với nhau và khiến cho không một hậu quả nào khác có thể phát
sinh được từ nguyên nhân ấy — cũng là tùy tiện không kém.
Thí dụ, khi tôi thấy một quả bi-da chuyển động
theo đường thẳng về phía một quả bi-da khác; ngay cả nếu chuyển động của quả
bi-da thứ hai tình cờ được gợi lên trong trí tôi như hậu quả của sự tiếp xúc
hay xung lực giữa chúng; thì tại sao tôi lại không thể hình dung rằng hàng trăm
sự kiện khác nhau cũng có thể phát sinh từ nguyên nhân ấy?
Chẳng lẽ cả hai quả bi-da này không thể vẫn ở
trong trạng thái đứng yên tuyệt đối sao? Quả bi-da thứ nhất chẳng lẽ không thể
bật ngược trở lại theo đường thẳng, hay nảy khỏi quả bi-da thứ hai theo bất kỳ
đường thẳng hay hướng nào khác sao? Tất cả những giả định này đều nhất quán và có thể hình
dung được. Vậy tại sao chúng ta lại ưu tiên một giả định trong số đó, trong khi
giả định đó không nhất quán hơn cũng không dễ hình dung hơn những giả định còn lại?
Tất cả những lý luận tiên nghiệm của
chúng ta sẽ không bao giờ có thể cho chúng ta thấy bất kỳ nền tảng nào cho sự
ưu tiên này.
E 4. 11, SBN 30
Tóm lại, khi đó, mỗi tác dụng là một sự kiện tách biệt với nguyên
nhân của nó. [9] Do đó, không thể tìm
ra được tác dụng trong chính nguyên nhân ấy, và việc lần đầu tiên nghĩ ra hay
hình thành ý niệm về nó theo tiên nghiệm (à priori) phải là hoàn toàn
tùy tiện. Và ngay cả sau khi hậu quả ấy [10]
được nêu lên, thì sự liên kết của nó với nguyên nhân cũng phải có vẻ tùy tiện
không kém; bởi vì luôn luôn có nhiều tác dụng khác, vốn với lý trí, cũng có vẻ
hoàn toàn nhất quán và tự nhiên như vậy. Cho nên, chúng ta sẽ uổng
công vô ích nếu tự cho rằng có thể xác định bất kỳ sự kiện riêng lẻ nào, hay suy
ra bất kỳ nguyên nhân hay hậu quả nào, với không có trợ giúp của quan
sát và kinh nghiệm.
E 4. 12, SBN 30-1
Do đó, chúng ta thấy lý do tại sao ngay cả
những triết gia có lý trí và khiêm tốn cũng chưa từng cho rằng có thể cho thấy
nguyên nhân cuối cùng của bất kỳ hoạt động tự nhiên nào, hay minh bạch trình
bày tác động của khả năng tạo ra một tác dụng đơn lẻ trong vũ trụ. Phải thú nhận rằng gắng sức
tột bậc của lý trí con người là để giản lược những nguyên lý tạo ra những hiện tượng tự
nhiên về một đơn giản lớn hơn, và qui giải nhiều tác dụng riêng biệt về một số nguyên nhân tổng quát, bằng những suy luận dựa trên sự tương
đồng, kinh nghiệm và quan sát. Nhưng về phần những nguyên nhân của những
nguyên nhân tổng quát này, mọi
gắng sức tìm kiếm của chúng ta đều sẽ vô vọng; và chúng ta cũng chẳng bao giờ có thể tự
thỏa mãn bằng bất kỳ sự giải thích cụ thể nào về chúng. .
Những nguồn mạch và nguyên lý cuối cùng này hoàn toàn bị đóng kín trước sự tò
mò hiếu kỳ và sự tìm tòi của con người. Tính đàn hồi, trọng lực, sự gắn kết của
những bộ phận, việc truyền chuyển động qua va chạm; đây có lẽ là những
nguyên nhân và nguyên lý cuối cùng vốn chúng ta có thể tìm ra trong tự nhiên;
và chúng ta có thể coi mình là đủ may mắn nếu qua tìm tòi và suy luận chính xác, chúng ta
có thể truy nguyên những hiện tượng riêng biệt về đến, hay gần đến, những
nguyên lý tổng quát này. Thứ triết học tự nhiên hoàn hảo nhất cũng chỉ tạm thời
đẩy lùi sự
ngu muội của chúng ta thêm một chút: Có lẽ, cũng giống như thứ triết học hoàn
hảo nhất về đạo đức hay siêu hình học, chỉ phục vụ cho việc tìm ra những mảng lớn hơn của sự ngu
muội đó. Như vậy, việc nhận
ra sự mù quáng và yếu đuối của con người là hậu quả của
mọi loại triết học, và và nó luôn đối mặt với chúng ta ở mọi ngã rẽ, bất chấp
những gắng sức để né tránh hay lẩn trốn nó của chúng ta .
E 4. 13, SBN 31-2
Và ngay cả hình học, khi được dùng để hỗ trợ cho triết
học tự nhiên, cũng chưa từng có thể khắc phục được khiếm khuyết này, hay dẫn dắt chúng ta đến với
kiến thức về những nguyên nhân sau cùng, dù với tất cả sự chính xác trong lý luận vốn nó được tán dương
chính đáng. Mọi phần của toán học hỗn hợp [11] đều tiến
hành trên giả định rằng tự nhiên đã thiết lập một số định luật nhất định trong
những hoạt động của nó; và những lý luận trừu tượng được dùng, để hỗ trợ kinh nghiệm
trong việc tìm ra những định luật này, hay để xác định ảnh hưởng của chúng
trong những trường hợp cụ thể, nơi nó tùy thuộc trên bất kỳ mức độ chính xác nào
về khoảng cách và số lượng. Như vậy, đó là một định luật chuyển động, được tìm ra nhờ kinh nghiệm, rằng động
lượng hay lực của một vật thể đang chuyển động tỉ lệ thuận với tích số của khối
lượng và vận tốc của nó; và do đó, một lực nhỏ cũng có thể chuyển dịch chướng
ngại lớn nhất hay nâng vật nặng nhất, nếu bằng bất kỳ cơ cấu hay máy móc nào,
chúng ta có thể tăng vận tốc của lực đó lên, đến mức vượt trội lực
đối kháng của nó. Hình học hỗ trợ chúng ta trong việc áp dụng định luật này,
bằng cách đem cho chúng ta kích thước chính xác của tất cả những bộ phận và hình dạng
có thể có để cấu thành nên bất kỳ loại máy móc nào; nhưng việc tìm ra chính định
luật ấy vẫn hoàn toàn nhờ vào kinh nghiệm, và tất cả những suy luận trừu tượng
trên thế giới cũng không thể đưa chúng ta tiến thêm một bước nào đến hiểu biết
về nó. Khi chúng ta lý luận tiên nghiệm, và chỉ xem xét và chỉ xét một đối tượng hoặc nguyên nhân
thuần túy như nó hiện ra trong não thức, độc lập với mọi quan sát, thì đối
tượng hoặc nguyên nhân đó không bao giờ có thể gợi ý cho chúng ta ý niệm về bất
kỳ đối tượng riêng biệt nào, chẳng hạn như hậu quả của nó; huống chi là cho
thấy cho chúng ta sự liên kết không thể tách rời và không thể phá vỡ giữa chúng. Một người phải rất sáng suốt mới có thể bằng suy luận tìm ra rằng pha lê là tác
dụng của
nhiệt, và băng đá là tác dụng của lạnh, vốn trước đó không quen thuộc về hoạt động của những thuộc
tính này.
PHẦN II.
E 4. 14, SBN 32
Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa đạt được bất kỳ
sự hài lòng thỏa đáng nào liên quan đến câu hỏi ban đầu đã đề ra. Mỗi giải đáp
lại khơi lên một câu hỏi mới khó khăn không kém phần trước, và dẫn chúng ta đến
những khảo cứu xa hơn. Khi được hỏi: Bản chất của tất cả những suy luận của
chúng ta về những sự kiện thực tế là gì? Có thể trả lời bằng một từ: Kinh
nghiệm. Nhưng nếu chúng ta tiếp tục giữ thái độ sàng lọc nghiêm ngặt, và hỏi: Nền
tảng tất cả những kết luận từ kinh nghiệm là gì? Thì đây hàm chứa một câu
hỏi mới, một câu hỏi có lẽ còn khó giải đáp và diễn giải hơn nữa. Những triết
gia tự tỏ ra có vẻ ưu việt về trí thức và năng lực, sẽ gặp phải một nhiệm vụ
khó khăn khi đối mặt với những người có thiên hướng tò mò hiếu kỳ, những người
dồn ép họ vào mọi ngóc ngách vốn họ định rút lui, và là những người chắc chắn
cuối cùng sẽ đưa họ tới một tình thế lưỡng nan hiểm nghèo nào đó. Phương kế tốt
nhất để ngăn chặn sự rối loạn này là hãy khiêm tốn trong những mong đợi của
chúng ta ; và ngay cả tự mình tìm ra khó khăn trước khi có người phản đối. Nhờ
đó, chúng ta có thể tạo nên một phần công trạng từ chính sự thiếu hiểu biết”
của chúng ta .
E 4. 15, SBN 32
Trong phần này, tôi sẽ tự hài lòng với một
nhiệm vụ dễ dàng, và chỉ dám đưa ra một trả lời phủ định cho câu hỏi đã được
đặt ra ở đây. Tôi nói rằng, ngay cả sau khi chúng ta đã có kinh nghiệm về những
hoạt động của nguyên nhân và hậu quả, những kết luận của chúng ta từ kinh
nghiệm đó vẫn không dựa trên suy luận, hay bất kỳ tiến trình của Khả
Năng Nhận thức nào. Chúng ta phải cố gắng để vừa giải thích, vừa bảo vệ trả lời
này.
E 4. 16, SBN 32-4
Chắc chắn phải nhìn nhận rằng, tự nhiên đã giữ
chúng ta ở một khoảng cách rất xa với tất cả những bí mật của nó, và chỉ ban
cho chúng ta sự hiểu biết về một vài tính chất thấy được bên ngoài của những
đối tượng; trong khi nó che giấu chúng ta những sức mạnh và nguyên lý vốn tác
dụng của những đối tượng này hoàn toàn tùy thuộc vào chúng. Những giác quan của
chúng ta cho chúng ta biết màu sắc, sức nặng và độ rắn mềm của bánh mì; nhưng
cả giác quan lẫn lý trí đều không bao giờ có thể cho chúng ta biết những đặc
tính nào khiến nó phù hợp để nuôi dưỡng và duy trì một cơ thể con người. Thị
giác hay xúc giác truyền đạt cho chúng ta một ý tưởng về chuyển động thực sự
của những vật thể; nhưng về sức mạnh kỳ diệu hay động lực ấy – vốn sẽ khiến một
vật thể mãi mãi chuyển động trong liên tục thay đổi vị trí, và những gì những
vật thể chỉ mất đi khi truyền nó cho những vật thể khác; thì chúng ta không thể
hình thành dù chỉ một khái niệm mơ hồ nhất. Tuy nhiên bất chấp sự thiếu hiểu
biết” này về những sức mạnh và nguyên lý tự nhiên [7], chúng ta luôn giả định
rằng, khi chúng ta thấy những đặc tính cảm giác giống nhau, rằng chúng cũng có
những sức mạnh bí mật giống nhau, và mong đợi rằng những tác dụng, tương tự như
những tác dụng vốn chúng ta đã kinh nghiệm, sẽ theo sau chúng. Nếu một vật thể
có màu sắc và độ rắn mềm tương tự như ổ bánh mì vốn chúng ta đã ăn trước đây,
đưa cho chúng ta, chúng ta không ngần ngại lập lại thí nghiệm và đoán trước
chắc chắn rằng nó cũng cung cấp chất dinh dưỡng và hỗ trợ như vậy.
Bây giờ, đây là một tiến trình của não thức
hay suy nghĩ, vốn tôi rất muốn biết nền tảng của nó. Mọi người đều nhìn nhận
rằng không có sự liên kết nào được biết giữa những tính chất có thể cảm nhận được ược và những
năng lực bí mật; và do đó, não thức không được dẫn dắt để hình thành nên kết
luận về sự kết hợp thường xuyên và đều đặn của chúng dựa trên bất kỳ một gì vốn nó
biết về bản chất của chúng.
Về phần Kinh nghiệm quá khứ, nó chỉ có
thể cho thông tin trực tiếp và chắc chắn về những đối tượng chính xác
đó, và khoảng thời gian chính xác đó, nằm trong nhận thức của nó: Nhưng tại sao
kinh nghiệm này lại được mở rộng sang những thời điểm trong tương lai và với
những đối tượng khác, vốn theo như chúng ta biết, có thể chỉ tương tự về bề
ngoài; đây là câu hỏi chính yếu vốn tôi muốn nhấn mạnh. Ổ bánh mì tôi ăn trước
đây đã nuôi dưỡng tôi; nghĩa là, một vật thể có những phẩm chất tri giác được
như vậy, vào thời điểm đó, được ban cho những năng lực bí mật như vậy: Nhưng
liệu có suy ra được rằng, những ổ bánh mì khác cũng phải nuôi dưỡng tôi vào một
thời điểm khác, và rằng những phẩm chất tri giác tương tự phải luôn đi kèm với
những năng lực bí mật tương tự? Hệ quả dường như không hề tất yếu. Ít nhất,
phải nhìn nhận, rằng ở đây có một hệ quả do não thức rút ra; rằng có một bước
nhất định được thực hiện; một tiến trình suy nghĩ và một suy luận cần được giải
thích. Hai mệnh đề này không hề giống nhau:
tôi thấy rằng
một đối tượng như vậy luôn có tác dụng như vậy, và
tôi thấy trước
rằng những đối tượng khác, xét về bề ngoài, có vẻ tương tự, sẽ có tác dụng
tương tự.
Tôi sẵn sàng nhìn nhận, nếu bạn muốn, rằng một
mệnh đề có thể được suy ra một cách chính đáng từ mệnh đề kia: Tôi biết trong
thực tế rằng nó luôn luôn được suy ra như vậy. Nhưng nếu bạn khăng khăng rằng sự suy luận đó được
thực hiện qua một chuỗi lý luận, thì tôi xin bạn hãy trình bày chuỗi lý luận
ấy. Sự liên kết giữa những mệnh đề này không phải là trực giác. Cần có một trung gian nào đó để não thức có thể rút ra suy luận như
vậy, nếu quả thực nó được rút ra bằng lý luận và lập luận. Còn trung gian ấy là
gì, tôi phải nhìn nhận rằng nó, vượt quá khả năng của tôi; và trách nhiệm thuộc về
những ai khẳng định rằng nó thực sự hiện hữu, và là nguồn gốc của mọi kết luận của
chúng ta về những sự kiện thực tế, để phải đưa ra bằng chứng về nó.
E 4. 17, SBN 34-5
Lập luận phủ định này chắc chắn phải, theo
tiến trình thời gian, trở nên hoàn toàn thuyết phục, nếu nhiều triết gia sắc
sảo và tài giỏi hướng những nghiên cứu của họ theo hướng này; và không ai có
thể tìm ra bất kỳ mệnh đề liên kết hay bước trung gian nào hỗ trợ cho Khả Năng
Nhận thức trong kết luận này. Nhưng vì vấn đề vẫn còn mới mẻ, nên không phải
người đọc nào cũng có thể tin tưởng quá mức vào sự thấu hiểu của mình đến mức
kết luận rằng, chỉ vì một lập luận thoát khỏi sự tìm hiểu của họ, nên nó không
thực sự hiện hữu. Vì lý do này, có thể cần thiết để bạo dạn thực hiện một nhiệm
vụ khó khăn hơn; và liệt kê tất cả những nhánh của tri thức con người, cố gắng
cho thấy rằng, không nhánh nào trong số chúng có thể cung cấp một lập luận như
vậy.
E 4. 18, SBN 35
Tất cả những suy luận đều có thể chia thành
hai loại, cụ thể là suy luận chứng minh, hay loại liên quan đến những quan hệ
của những ý niệm và suy luận duy nghiệm [12], hay loại
liên quan đến sự kiện thực tế và sự hiện hữu. Rằng không có suy luận chứng minh
nào trong trường hợp này dường như hiển nhiên; bởi lẽ nó không bao hàm sự mâu
thuẫn nào khi giả định rằng tiến trình của tự nhiên có thể thay đổi, và rằng
một đối tượng dù bên ngoài giống hệt những đối tượng chúng ta từng kinh nghiệm,
lại có thể đi kèm với những hậu quả khác biệt hay trái ngược. Chẳng lẽ tôi
không thể hình dung một cách rõ ràng và minh bạch rằng một vật thể rơi xuống từ
những đám mây, trông giống hệt tuyết về mọi mặt, nhưng lại có vị muối hay gây
cảm giác nóng như lửa sao? Có mệnh đề nào dễ hiểu hơn việc khẳng định rằng, tất
cả những cây cối sẽ nở rộ vào tháng Mười hai và tháng Giêng, và tàn úa vào
tháng Năm và tháng Sáu? Bây giờ bất cứ một gì dễ hiểu, và có thể được hình dung
một cách rành mạch, đều không hàm chứa mâu thuẫn, và do đó không bao giờ có thể
có thể chứng minh được là sai bằng bất kỳ suy luận chứng minh hay suy luận trừu
tượng tiên nghiệm nào.
E 4. 19, SBN 35-6
Do đó, nếu những lập luận lôi kéo chúng ta để
đặt tin cậy trong kinh nghiệm quá khứ và làm thành tiêu chuẩn của phán đoán
tương lai của chúng ta, thì những lập luận này phải chỉ là xác suất, hay nói
cách khác, chỉ thuộc loại liên quan đến sự kiện thực tế và sự hiện hữu thực
tại, theo như phân chia đã đề cập ở trên. Nhưng nếu giải thích của chúng ta về
loại suy luận ấy được chấp nhận là vững chắc và thỏa đáng, thì sẽ rõ ràng rằng
không hiện hữu bất kỳ lập luận nào thuộc loại này. Chúng ta đã nói rằng: tất cả
những lập luận liên quan đến sự hiện hữu thực tại đều dựa trên tương quan của
nguyên nhân và hậu quả; rằng kiến thức của chúng ta về tương quan ấy hoàn toàn
bắt nguồn từ kinh nghiệm; và rằng tất cả những kết luận thực nghiệm của chúng
ta đều tiến hành trên giả định, rằng tương lai sẽ tiếp tục giống như quá khứ.
Vì vậy, việc cố gắng chứng minh chính giả định cuối cùng này bằng những lập
luận có tính xác suất, hay những lập luận liên quan đến sự sự hiện hữu thực
tại, rõ ràng là phải đang đi vào một vòng luẩn quẩn, và lấy chính điều đang cần
chứng minh làm điều đã được nhìn nhận.
E 4. 20, SBN 36
Trong thực tế, tất cả những lập luận từ kinh
nghiệm đều dựng trên sự giống nhau, vốn chúng ta tìm ra giữa những đối tượng tự
nhiên, và qua sự giống nhau này chúng ta được dẫn dắt để mong đợi những hiệu
quả tương tự với những gì chúng ta đã thấy xảy ra từ những đối tượng như vậy.
Và dù không ai trừ một người ngốc hay người điên sẽ bao giờ dám tranh luận về
thẩm quyền của kinh nghiệm, hay bác bỏ sự dẫn đường vĩ đại đó của đời sống con
người; chắc chắn một nhà triết học có thể được phép có ít nhất là sự tò mò hiếu
kỳ như thế, để xem xét nguyên lý của bản chất con người – nguyên lý đã trao cho
kinh nghiệm quyền lực to lớn ấy, và khiến chúng ta rút ra ích lợi từ sự giống
nhau vốn tự nhiên đã đặt giữa những đối tượng khác nhau. Từ những nguyên nhân
trông có vẻ giống nhau, chúng ta mong đợi những hậu quả giống nhau. Đây
chính là tổng kết của tất cả những kết luận thực nghiệm của chúng ta . Bây giờ
có vẻ hiển nhiên rằng, nếu kết luận này được lý trí hình thành, thì nó sẽ hoàn
hảo ngay từ đầu, và sau chỉ một trường hợp duy nhất, cũng như sau cả một tiến
trình kinh nghiệm lâu dài. Nhưng thực tế xảy ra lại hoàn toàn khác. Không gì giống
như những quả trứng; tuy nhiên không ai, sựa trên sự giống nhau bên ngoài này,
mong đợi cùng hương vị và sự ngon miệng như nhau trong chúng tất cả. Chỉ sau
một tiến trình dài những thí nghiệm đồng nhất trong bất kỳ loại nào, vốn chúng
ta đạt được một sự tin cậy và an tâm vững chắc với một sự kiện cụ thể. Bây giờ
đâu là tiến trình suy luận đó, vốn từ một trường hợp duy nhất lại rút ra kết
luận khác hẳn so với kết luận từ một trăm trường hợp – dù những trường hợp ấy
chẳng khác gì trường hợp đơn lẻ kia? Câu hỏi này tôi nêu lên, vừa để tìm hiểu,
vừa với ý định nêu lên những khó khăn cần suy ngẫm. Tôi không thể tìm ra, tôi
không thể tưởng tượng được bất kỳ suy luận nào như vậy. Nhưng tôi vẫn giữ não
thức mở rộng để đón nhận chỉ dẫn, nếu có bất kỳ ai hạ cố ban nó cho tôi.
E 4. 21, SBN 36-8
Có thể nói rằng, từ một số những thí nghiệm
đồng nhất, chúng ta suy diễn một sự liên kết giữa những phẩm
chất tri giác được và những năng lực bí ẩn; điều này, tôi phải nhìn nhận, dường
như là một cùng khó khăn, nhưng che đậy dưới những từ ngữ khác nhau. Câu hỏi
vẫn đặt ra, suy diễn này dựng trên tiến trình lập luận nào? Đâu là trung
gian, những ý tưởng xen kẽ nào liên kết những mệnh đề dường như xa rời nhau đến
vậy? Phải nhìn nhận rằng, màu sắc, độ rắn mềm và những những phẩm chất tri giác
được khác của bánh mì dường như không hề có bất kỳ sự liên kết nào với những năng
lực bí ẩn của nuôi dưỡng và hỗ trợ cơ thể. Bởi nếu không thế, chúng ta đã có
thể suy diễn được những năng lực bí ẩn này từ sự xuất hiện đầu tiên của
những những phẩm chất tri giác được này, vốn không cần đến kinh nghiệm; trái
ngược với quan điểm của tất cả những triết gia, và trái ngược với sự thật hiển
nhiên. Ở đây, khi đó chính là trạng thái vô tri tự nhiên của chúng ta về những
năng lực và ảnh hưởng của tất cả những đối tượng. Làm thế nào để khắc phục điều
này bằng kinh nghiệm? Nó chỉ cho chúng ta thấy một số tác dụng đồng nhất, xuất
phát từ một số đối tượng nhất định, và dạy chúng ta rằng những đối tượng cụ thể
đó, tại thời điểm cụ thể đó, đã được ban cho những năng lực và sức mạnh như
vậy. Khi một đối tượng mới, được ban cho những những phẩm chất tri giác được
tương tự, được tạo ra, chúng ta mong đợi những năng lực và sức mạnh tương tự,
và tìm kiếm một tác dụng tương tự. Từ một đối tượng có màu sắc và độ rắn mềm
tương tự như bánh mì, chúng ta mong đợi sự nuôi dưỡng và hỗ trợ tương tự. .
Nhưng đây chắc chắn là một bước đi hay sự tiến bộ của não thức, vốn cần được
giải thích.
Khi một người nói, “Tôi đã tìm thấy, trong
tất cả những trường hợp trước đây, những những phẩm chất tri giác được như vậy
kết hợp với những sức mạnh bí ẩn như vậy”: Và khi người này nói, những
những phẩm chất tri giác được tương tự sẽ luôn được kết hợp với những sức mạnh
bí ẩn tương tự; người này không hề mắc lỗi lập ý [13], và những
mệnh đề này cũng không giống nhau về bất kỳ mặt nào. Bạn nói rằng một mệnh đề
là một suy diễn từ mệnh đề kia. Nhưng bạn phải nhìn nhận rằng suy luận đó không
là trực giác; nó cũng không là chứng minh: Vậy bản chất của nó là gì? Nói rằng
nó là suy luận thực nghiệm, thì đó chính là cầu xin điều cần chứng minh [14].
Bởi vì tất cả những duy diễn từ kinh nghiệm đều giả định, như nền tảng chủ
chúng, rằng tương lai sẽ giống với quá khứ, và những sức mạnh tương tự sẽ được
kết hợp với những những phẩm chất tri giác được tương tự. Nếu có bất kỳ nghi
ngờ nào rằng tiến trình của tự nhiên có thể thay đổi, và quá khứ không thể là
quy luật cho tương lai, thì tất cả những kinh nghiệm đều trở nên vô ích, và
không thể đưa ra bất kỳ suy diễn hay kết luận nào. Do đó, không thể có bất kỳ
lập luận nào từ kinh nghiệm có thể chứng minh sự giống nhau này giữa quá khứ và
tương lai; bởi vì tất cả những lập luận này đều dựng trên giả định về chính sự
giống nhau đó. Hãy để cho tiến trình của tất cả những sự vật việc cho đến nay
được cho là luôn đều đặn; chỉ riêng sự vật việc đó, nếu không có một lập luận
hay suy diễn mới nào, thì không chứng minh được rằng, trong tương lai, nó sẽ
tiếp tục như vậy. Thật vô ích khi bạn làm ra như đã học được bản chất của những
đối tượng từ kinh nghiệm quá khứ của bạn. Bản chất bí ẩn của chúng, và do đó,
tất cả những tác động và ảnh hưởng của chúng, có thể thay đổi, nhưng không có
bất kỳ thay đổi nào trong những đặc tính cảm quan của chúng. Điều này đôi khi xảy
ra với một số đối tượng; Tại sao nó không thể xảy ra luôn luôn với tất cả những
đối tượng? Lôgích nào, tiến trình lập luận nào bảo đảm cho bạn chống lại giả
định này? Bạn nói rằng việc làm thường ngày của tôi bác bỏ những nghi ngờ của
tôi. Nhưng bạn đã nhầm lẫn mục đích câu hỏi của tôi. Với tư cách là một người
hành động, tôi hoàn toàn hài lòng về điểm này; nhưng với tư cách là một triết
gia, người có phần nào đó tò mò hiếu kỳ, tôi sẽ không nói là thuyết hoài nghi,
tôi muốn tìm hiểu nền tảng của suy diễn này. Không một sách đọc nào, không một
khảo cứu nào cho đến nay có thể gỡ bỏ được khó khăn của tôi, hay mang lại cho
tôi sự thỏa mãn trong một vấn đề quan trọng đến như vậy. Tôi có thể làm gì tốt
hơn là nêu lên khó khăn này với công chúng, ngay cả khi, có lẽ, tôi chỉ có rất
ít hy vọng đạt được một giải đáp? Ít nhất, bằng cách này, chúng ta sẽ ý thức rõ
ràng về sự thiếu hiểu biết” của chính cúng ta, nếu chúng ta không làm tăng thêm
kiến thức của chúng ta được.
E 4. 22, SBN 38-9
Tôi phải nhìn nhận, rằng một người phạm vào sự
kiêu ngạo không thể tha thứ, nếu kết luận rằng một lập luận không thực sự hiện
hữu. chỉ vì lập luận đã vượt khỏi khả năng khảo cứu của chính người này. Tôi
cũng phải nhìn nhận, rằng dù tất cả những học giả qua nhiều thế hệ đã dành thời
gian tìm kiếm trong vô vọng về một đề tài nào đó, thì có lẽ vẫn có thể coi là
vội vàng nếu kết luận dứt khoát rằng đề tài ấy phải vượt khỏi tất cả Khả Năng
Nhận thức của con người. Ngay cả khi chúng ta xem xét tất cả những nguồn kiến
thức của chúng ta, và kết luận rằng chúng không thích đáng với một đề tài loại
như vậy, vẫn có thể còn hiện hữu một nghi ngờ, rằng danh sách liệt kê chưa đầy
đủ, hay sự kiểm tra chưa đủ chính xác. Nhưng liên quan đến đề tài hiện tại, có
một số lý do cân nhắc dường như xóa bỏ tất cả cáo buộc về sự kiêu ngạo hay nghi
ngờ về sai lầm.
E 4. 23, SBN 39
Chắc chắn rằng ngay cả những nông dân dốt nát
và chậm hiểu nhất, ngay cả cả trẻ nhỏ, hay ngay cả loài thú hoang, cũng tiến bộ
nhờ kinh nghiệm và học được những thuộc tính của những đối tượng tự nhiên bằng
quan sát những tác dụng chúng gây ra. Khi một đứa trẻ cảm thấy cảm giác đau do
chạm tay vào lửa một cây nến, nó sẽ cẩn thận không đưa tay lại gần bất kỳ cây
nến nào; và nó sẽ mong đợi một tác dụng tương tự từ một nguyên nhân giống như
thế về những đặc tính có thể tri giác được và về vẻ bề ngoài. Do đó, nếu bạn
khẳng định rằng sự hiểu biết của đứa trẻ được dẫn đến kết luận này bằng bất kỳ
tiến trình lập luận hay suy luận có bước có nấc nào, tôi có quyền yêu cầu bạn
đưa ra tiến trình lập luận đó; và bạn không có lý do gì để từ chối một yêu cầu
công bằng như vậy. Bạn không thể nói rằng lập luận đó rắc rối khó hiểu và có
thể vượt quá Khả Năng Nhận thức của bạn; vì chính bạn nhìn nhận rằng nó hiển
nhiên với khả năng của một đứa trẻ nhỏ. Do đó, nếu bạn do dự chỉ một khoảnh
khắc, hay nếu sau khi suy ngẫm, bạn đưa ra bất kỳ lập luận rắc rối hay sâu xa
nào, thì theo một nghĩa nào đó, bạn đã tự bỏ câu hỏi, và nhìn nhận rằng không
phải lý luận khiến chúng ta cho rằng quá khứ giống với tương lai, hay khiến
chúng ta mong đợi những hậu quả giống nhau từ những nguyên nhân có vẻ bề ngoài
giống nhau.
Đây chính là luận điểm mà tôi muốn nhấn mạnh
trong phần này. Nếu tôi đúng, thì tôi không dám nhận đã có một khám phá vĩ đại
nào. Còn nếu tôi sai, tôi phải nhìn nhận chính tôi quả thực là một học giả rất
lạc hậu; vì hiện giờ tôi không thể tìm ra một lập luận nào, vốn nó có vẻ rất
quan thuộc với tôi, từ lâu trước cả khi tôi rời nôi vào đời.
----------------------------------------------------
NHỮNG GHI CHÚ (NOTES)
E 4. 16n7, SBN 33
7. Từ “Quyền năng” ở đây được dùng theo nghĩa
rộng và phổ biến. Giải thích chính xác hơn về nó sẽ đem cho thêm bằng chứng cho
lập luận này. Xem Mục 7.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Hume’s Fork”: Ngã rẽ của Hume
Trong tiết IV trên , David Hume đưa ra một trong những phân biệt có ảnh hưởng sâu rộng nhất của triết học hiện đại — những gì vốn những học giả về sau gọi là “Hume’s Fork” (Ngã rẽ của Hume). Hình ảnh “ngã rẽ” diễn tả một con đường tách thành hai nhánh, và theo Hume, mọi mệnh đề có ý nghĩa đều phải thuộc về một trong hai loại đó. Nếu một phát biểu không thuộc nhánh nào, thì nó không thực sự chứa tri thức về thế giới hay về tư tưởng; nó chỉ là ngôn từ trừu tượng, mơ hồ, hay ảo tưởng siêu hình học.
Nhánh thứ nhất là quan hệ giữa những ý niệm (relations of ideas). Đây là những chân lý mà sự đúng sai của chúng chỉ dựa vào chính những khái niệm, không cần đến kinh nghiệm thực tế. Toán học và lôgic thuộc loại này. Khi nói “2 + 2 = 4” hay “tam giác có ba góc,” chúng ta không cần đi quan sát thế giới để xác minh. Chỉ cần hiểu những khái niệm liên quan, chúng ta đã thấy mệnh đề ấy đúng. Điều ngược lại của chúng là điều không thể nghĩ được mà không rơi vào mâu thuẫn. Vì thế, loại tri thức này có tính chắc chắn tuyệt đối.
Nhưng Hume nhấn mạnh rằng những chân lý ấy chỉ nói về quan hệ giữa những ý niệm trong tư tưởng; chúng không tự chúng cung cấp tri thức về thế giới thực. Một phương trình toán học có thể hoàn toàn chắc chắn, nhưng từ riêng nó chúng ta không thể biết ngoài đời thực có vật gì tồn tại hay không. Loại tri thức này đạt được sự chắc chắn bằng cái giá là nó không vượt ra khỏi phạm vi khái niệm.
Nhánh thứ hai là sự kiện thực tế (matters of fact). Đây là mọi phát biểu về thế giới mà chúng ta chỉ có thể biết qua kinh nghiệm. Khi nói “lửa tạo ra nhiệt,” “trời đang mưa,” hay “Mặt Trời sẽ mọc vào ngày mai,” chúng ta không thể chứng minh những mệnh đề ấy chỉ bằng suy luận thuần túy. Chúng ta tin chúng vì kinh nghiệm quá khứ luôn cho thấy như vậy.
Điểm then chốt trong lập luận của Hume là: điều ngược lại của mọi sự kiện thực tế đều có thể tưởng tượng được mà không mâu thuẫn. Không có mâu thuẫn lôgic nào trong việc hình dung rằng ngày mai Mặt Trời không mọc. Điều đó có thể cực kỳ khó xảy ra, nhưng không phải bất khả về mặt lý tính. Vì thế, những tri thức về thế giới thực không bao giờ đạt đến tính chắc chắn tuyệt đối như toán học. Chúng chỉ dựa trên kinh nghiệm, thói quen, và sự lặp lại của những hiện tượng trong quá khứ.
Từ đây, Hume dẫn đến một kết luận gây chấn động: phần lớn những gì con người gọi là “tri thức chắc chắn” thực ra chỉ là tập quán tâm lý. Khi chúng ta thấy một sự kiện luôn đi theo sau một sự kiện khác — như lửa đi kèm với nhiệt hay va chạm dẫn đến chuyển động — tâm trí hình thành thói quen liên tưởng. Chúng ta bắt đầu chờ đợi kết quả quen thuộc ấy sẽ tiếp tục xảy ra trong tương lai. Nhưng Hume cho rằng không có suy luận lôgic nào chứng minh được rằng tự nhiên bắt buộc phải tiếp tục vận hành như trước đây. Tin tưởng vào nhân quả không xuất phát từ lý trí thuần túy, mà từ thói quen của não thức
Chính ở đây, “Ngã rẽ của Hume” trở thành một dụng cụ phê phán mạnh mẽ. Hume dùng nó để kiểm tra mọi hệ thống triết học và thần học truyền thống. Một phát biểu hoặc phải là quan hệ giữa những ý niệm, hoặc phải là sự kiện thực tế. Nếu không thuộc loại thứ nhất, thì nó không có tính chắc chắn lôgic. Nếu cũng không thuộc loại thứ hai, thì nó không thể được xác nhận bằng kinh nghiệm. Trong cả hai trường hợp, nó không có nội dung nhận thức rõ ràng.
Vì vậy, Hume đặc biệt nghi ngờ siêu hình học truyền thống — những học thuyết nói về “bản thể,” “thực thể tuyệt đối,” “linh hồn phi vật chất,” hay “bản chất tối hậu của thực tại.” Theo ông, những khái niệm ấy thường không thể truy ngược về kinh nghiệm cảm giác cụ thể nào. Chúng cũng không phải chân lý toán học hay lôgic. Do đó, chúng đứng ngoài cả hai nhánh của ngã rẽ.
Ở Tiết XII cuối, Hume diễn đạt quan điểm này bằng một đoạn nổi tiếng gần như mang tính tuyên chiến với siêu hình học kinh viện. Ông nói: khi cầm một cuốn sách lên, hãy tự hỏi — nó có chứa suy luận về số lượng hay toán học không? Nó có chứa suy luận thực nghiệm về sự kiện hay không? Nếu không có cả hai, thì “hãy ném nó vào lửa,” vì nó chỉ chứa “ngụy biện và ảo tưởng.”
Tuy nhiên, Hume không chủ trương phá hủy mọi tri thức. Ông không phủ nhận khoa học, kinh nghiệm thường ngày, hay đời sống thực tiễn. Ngược lại, ông muốn xác định giới hạn thật sự của khả năng nhận thức con người. Theo ông, con người vẫn phải sống, hành động, tin tưởng, và suy luận; nhưng chúng ta cần hiểu rằng phần lớn tin tưởng của mình không dựa trên nền tảng chắc chắn tuyệt đối, mà trên tập quán tự nhiên của não thức
Ảnh hưởng của “Ngã rẽ Hume” đối với lịch sử triết học là vô cùng lớn. Immanuel Kant thừa nhận rằng chính Hume đã “đánh thức ông khỏi giấc ngủ giáo điều.” Kant nhận ra rằng nếu Hume đúng, thì khoa học dường như mất đi nền tảng chắc chắn của nó. Toàn bộ triết học phê phán của Kant có thể được xem như một nỗ lực trả lời thách thức ấy: liệu có thể tồn tại một loại tri thức vừa chắc chắn như toán học vừa nói về thế giới thực hay không?
Đến thế kỷ XX, những nhà Thực Chứng Luận Lôgic tiếp tục phát triển tinh thần của Hume thành “nguyên tắc kiểm chứng”: một phát biểu chỉ có ý nghĩa nếu có thể được xác minh bằng kinh nghiệm hoặc phân tích lôgic. Dù phong trào ấy về sau bị phê phán, ảnh hưởng của Hume vẫn còn rất mạnh trong triết học khoa học, triết học ngôn ngữ, và lý thuyết tri thức hiện đại.
Điều quan trọng nhất trong di sản của Hume không phải là ông phủ nhận tri thức, mà là ông buộc triết học phải đối diện với một câu hỏi căn bản: con người thực sự biết điều gì, và chúng ta biết điều đó bằng cách nào? Chính sự chuyển hướng ấy — từ việc xây dựng những hệ thống siêu hình học sang việc khảo sát giới hạn của khả năng nhận thức con người — đã làm cho Hume trở thành một trong những triết gia quyết định của thời hiện đại.
[2] demonstratively false
[3] Matters Of Fact = Sự Kiện Thực Tế. Trong Hume, matters of fact chỉ những đối tượng tri thức liên quan đến sự hiện hữu và trạng thái của những sự vật trong thế giới. Chúng đối lập với relations of ideas—những quan hệ thuần túy giữa những ý niệm, như trong toán học hay hình học, nơi chân lý được xác lập bằng suy luận logic.
Hume thường dùng gần như thay thế cho nhau những cụm từ matters of fact, real existence và existence để chỉ những gì thực sự hiện hữu. Một đặc điểm quan trọng của loại tri thức này là điều trái ngược của nó luôn có thể hình dung được. Khác với những chân lý toán học—nơi phủ định của chúng dẫn đến mâu thuẫn—phủ định của một matter of fact không bao hàm bất kỳ mâu thuẫn logic nào. Vì vậy, mệnh đề “ngày mai mặt trời sẽ không mọc”vẫn hoàn toàn có thể hiểu được, dù kinh nghiệm khiến chúng ta tin điều ngược lại.
Tri thức về những matters of fact do đó không thể suy ra bằng lý trí tiên nghiệm, mà chỉ có thể được biết nhờ kinh nghiệm. Khi chúng ta vượt ra ngoài những gì giác quan đang trực tiếp chứng kiến hay trí nhớ đang lưu giữ, tất cả những suy luận về sự hiện hữu của những sự vật đều phải dựa vào quan hệ nhân quả như một trung gian. Tuy nhiên, theo Hume, quan hệ này không thể được chứng minh bằng suy luận logic thuần túy; nó chỉ được rút ra từ kinh nghiệm về sự liên tiếp thường xuyên giữa những sự kiện.
Trong bản dịch này, matters of fact được dịch là “sự kiện thực tế”nhằm nhấn mạnh rằng Hume đang nói đến những gì thực sự hiện hữu hay xảy ra trong thế giới kinh nghiệm, chứ không phải những chân lý tất yếu của lý trí. So với những phương án khác, “sự kiện thực tế”giữ được sự cân bằng giữa nghĩa kinh nghiệm và nghĩa hiện hữu của từ ngữ. “Sự kiện thực tại”tuy gần nghĩa nhưng mang sắc thái bản thể luận nặng hơn văn phong của Hume, còn “sự kiện thực tiễn”dễ gây nhầm lẫn với ý niệm về hoạt động thực hành (practice). Vì vậy, “sự kiện thực tế”được chọn làm cách dịch ổn định cho từ ngữ này.
[4] không hiện diện trực tiếp trước giác quan hay trí nhớ
[5] cấu trúc tâm sinh lý của con người.
[6] Adam ở đây được Hume dùng như một thí nghiệm tưởng tượng. Ông mượn hình ảnh con người đầu tiên trong Kinh Thánh — một người có trí thức hoàn hảo nhưng hoàn toàn chưa có kinh nghiệm về những sự kiện thực tế — để chứng minh rằng: Nếu không có kinh nghiệm, lý trí thuần túy không thể giúp chúng ta biết được tính chất hay hậu quả của bất kỳ sự vật việc nào (thí dụ: nhìn nước không thể biết nó gây chết đuối)
[7] “natural philosophy”: triết học tự nhiên trong nguyên văn.
[8] Thí dụ về hai quả bi-da là luận điểm nổi tiếng và quan trọng nhất trong triết học của Hume, nhằm lật đổ tin tưởng rằng con người có thể thấu hiểu bản chất thế giới chỉ bằng lý trí thuần túy (a priori), nhưng không cần dựa vào kinh nghiệm.
● Sự tách biệt tuyệt đối giữa nguyên nhân và hậu quả: Khi quả bóng thứ nhất va chạm vào quả bóng thứ hai (đang đứng yên) và khiến nó chuyển động, chúng ta chỉ quan sát được hai sự kiện riêng biệt xảy ra liên tiếp: va chạm rồi chuyển động. Giác quan không hề tìm rara bất kỳ “sức mạnh nội tại”, “liên kết tất yếu”(necessary connection) hay “nguyên nhân sâu xa”nào gắn chặt hai sự kiện lại với nhau. Hậu quả luôn là một sự kiện hoàn toàn khác biệt, không nằm sẵn trong bản thân nguyên nhân – dù chúng ta xem xét kỹ lưỡng đến đâu.
● Sự bất lực của lý trí tiên nghiệm: Ngay cả một trí thức hoàn hảo như Adam (người đầu tiên trong Kinh Thánh, được giả sử có lý trí toàn diện từ ban đầu) cũng không thể suy luận ra rằng quả bóng thứ hai sẽ chuyển động chỉ từ việc quan sát hình dạng, độ cứng hay những phẩm chất đơn giản của quả bóng. Lý trí thuần túy không tìm thấy bất kỳ manh mối logic nào trong nguyên nhân để dự đoán hậu quả – vì hậu quả không phải là hệ quả tất yếu từ ý niệm về nguyên nhân.
● Cơ chế của thói quen (custom/habit): Tin tưởng rằng “va chạm sẽ dẫn đến chuyển động”không xuất phát từ logic hay lý trí, mà chỉ từ sự đi kèm liên tục (constant conjunction) trong kinh nghiệm quá khứ. Vì đã chứng kiến vô số lần hai sự kiện này xảy ra cùng nhau (luôn luôn, theo thứ tự thời gian và tiếp cận không gian), tâm lýhình thành thói quen tự động mong đợi và dự đoán hậu quả tương tự trong tương lai. Đây chính là nền tảng của tất cả những suy luận về Sự Kiện Thực Tế (matters of fact).
● Màn sương che phủ của thói quen: Thói quen mạnh mẽ đến mức nó không chỉ che đậy sự ngu muội tự nhiên của chúng ta (về việc không có cơ sở lý tính cho nhân quả), nhưng còn che giấu chính bản thân nó. Chúng ta lầm tưởng mình “biết chắc chắn”bằng lý trí, trong khi thực chất chỉ là “tin tưởng”dựa trên bản năng và kinh nghiệm về sự lập đi lập lại – đến nỗi chúng ta không nhận ra sự phụ thuộc hoàn toàn vào thói quen.
Kết luận: Qua thí dụ kinh điển về quả bi-da, Hume xác lập một luận điểm chấn động triết học và khoa học: Tương quan nhân quả không phải là quy luật khách quan, tất yếu của tự nhiên mà lý trí có thể nhận hiểu trực tiếp. Nó chỉ là một thói quen tâm lý hình thành từ kinh nghiệm quá khứ, thực sự không có cơ sở logic vững chắc. Đây chính là hạt nhân của “vấn đề về quy nạp”(problem of induction): Chúng ta không có lý do hợp lý để tin rằng tương lai sẽ giống quá khứ, dù kinh nghiệm cho thấy điều đó luôn xảy ra. Luận điểm này buộc triết học phải khiêm tốn trước những giới hạn của trí thức con người, đồng thời mở đường cho những nhà tư tưởng sau, như Kant (với tổng hợp tiên nghiệm) và triết học khoa học hiện đại.
[9] effect = tác dụng > every effect is a distinct event from its cause = mỗi tác dụng là một sự kiện riêng biệt với căn nguyên/lý do của nó > Hume cho thấy ở trên không thực có Nhân và Quả, nên không thể hiểu/dịch là mỗi kết quả/hậu quả (nếu có) là một sự kiện riêng biệt với nguyên nhân của nó.
[10] những gì là tác dụng khi đó – được gán cho/nêu lên/đưa ra như hậu quả//kết quả
[11] mixed mathematics: toán học hỗn hợp / toán học ứng dụng / toán học pha trộn (từ ngữ cổ chỉ toán học kết hợp với vật lý tự nhiên, như cơ học, quang học)
[12] demonstrative reasoning = Suy luận minh chứng: Liên quan đến nhữngtương quan giữa những ý niệm. ; moral reasoning = suy luận từ kinh nghiệm / suy luận duy nghiệm / suy luận thực nghiệm: dựa trên kinh nghiệm, về sự kiện thực tế (matters of fact), không chắc chắn tuyệt đối.
[13] tautology
[14] Petitio principii : Begging the question (ngụy biện cầu xin chính điều đang phải chứng minh, thường gọi là lập luận vòng tròn) là một kiểu lập luận trong đó kết luận đã được giả định sẵn ngay trong một tiền đề. Nói cách khác, người lập luận âm thầm coi điều cần chứng minh là đã đúng, rồi dùng chính giả định đó để “chứng minh”nó.
Vì giả định trung tâm không được nâng đỡ bởi bất kỳ bằng chứng hay lý do độc lập nào, nên lập luận này không thực sự mang lại tri thức mới. Nó chỉ tạo ra ấn tượng của suy luận hợp lý, trong khi nội dung chỉ lập lại chính điều cần được chứng minh, dưới một cách diễn đạt khác.
Thí dụ The belief in God is universal. After all, everyone believes in God. → Tin tưởng vào Gót là phổ quát, bởi vì ai cũng tin vào Gót. Phân tích: Kết luận: Tin tưởng vào Gót là phổ quát. Tiền đề: Ai cũng tin vào Gót. Kết luận “đúng”chỉ vì tiền đề đã nói cùng một điều, chỉ bằng cách diễn đạt khác. Không có thông tin mới, không có chứng cứ độc lập. Vì sao đây là ngụy biện? Lập luận không mở rộng tri thức Không chứng minh gì cả, chỉ lập lại điều cần chứng minh Mang hình thức suy luận, nhưng nội dung là vòng tròn khép kín
Như vậy, Begging the question là một sai lầm logic, trong đó lập luận giả định sẵn điều cần chứng minh: kết luận đã bị “cài”vào tiền đề, nên lý trí chỉ xoay vòng trong chính những giả định của nó vốn không dựa trên chứng cứ độc lập. Cách Hume phê phán siêu hình học, tuy không được trình bày như một ngụy biện hình thức, nhưng về bản chất mang cùng một chẩn đoán. Theo Hume, nhiều lập luận siêu hình—về bản thể, nguyên nhân tất yếu, hồn người bất tử, hay Gót—ngầm giả định ngay từ đầu chính những nguyên lý mà chúng tuyên bố chứng minh. Lý trí được yêu cầu phải suy ra điều gì đó vượt khỏi kinh nghiệm, nhưng lại không có ấn tượng (impression) tương ứng để làm nền tảng. Trong cả hai trường hợp, vấn đề không nằm ở hình thức suy luận, mà ở tính chính đáng của điểm xuất phát. Với begging the question, tiền đề không được biện minh; với siêu hình học theo Hume, ý niệm nền tảng không có nguồn gốc kinh nghiệm. Do đó, lý trí chỉ “vận hành trên không”, tạo ra vẻ ngoài của chứng minh trong khi thực chất chỉ tái diễn những giả định ban đầu. Vì vậy, phê phán của Hume có thể được hiểu như một phiên bản triệt để và sâu hơn của việc bác bỏ begging the question: không chỉ cho thấy vòng tròn trong lập luận, mà còn cắt bỏ tận gốc những khái niệm khiến vòng tròn ấy có thể hình thành.
