Friday, August 5, 2022

Sharpe - Triết học của Âm nhạc (01)

 Triết học của Âm nhạc

Một Dẫn Nhập

(Philosophy of Music – An Introduction)

R. A. Sharpe

 


  

Lời mở của người dịch bản tiếng Việt

 

Khôngâm nhạc, đời người sẽ là một sai lầm.

(Ohne Musik wäre das Leben ein Irrthum)

Nietzsche – Buổi Chạng vạng của những Tượng thần

 

 

Lời giới thiệu của nhà xuất bản 

 

Triết học của Âm nhạc dành cho bất kỳ một ai là người đã từng tự hỏi không biết âm nhạc có nghĩa gì không hay tại sao một loại âm nhạc được nghĩtuyệt vời đáng trân trọng .hơn một loại âm nhạc khác. Đây là một giới thiệu sinh động và trong sáng dễ hiểu dẫn đến thẩm mỹ học của âm nhạc và những vấn đề vốn soi sáng việc nghe, hiểu và thực hành âm nhạc. Quyển sách không đòi hỏi một trình độ chuyên môn triết học nào về phần người đọc, chỉ sự quan tâm với âm nhạc và những phản ứng của chúng ta với nó. Quyển sách đem cho một phân tích uy tín về những vấn đề trung tâm, sống động cùng nhiệt tình thực với chủ đề và sự quan trọng của nó.

 

trung tâm quyển sách là ba câu hỏi then chốt: Tác phẩm âm nhạc là gì? Nó có thể có ý nghĩa gì không? Âm nhạc có thể có giá trị gì không? R. A. Sharpe hướng dẫn người đọc qua những biện luận triết học và những tranh luận khái niệm quanh những câu hỏi này, trong khi cố định thảo luận xuyên qua những trường hợp và những thí dụ trong nhạc cổ điển phương Tây và nhạc Jazz. Không giống như một số giải thích khác về Triết học của Âm nhạc , vốn nhìn âm nhạc như một nhánh của siêu hình học, nêu lên những câu hỏi về âm thanh, âm sắc và một phần nội dung của một sáng tác âm nhạc hay hình thức âm nhạc. Tiếp cận của Sharpe là hướng về vấn đề quanh những câu hỏi chủ yếu ông nêu lên, những câu hỏi về giá trị của âm nhạc, về tính cá nhân trong những thẩm đinh giá trị của chúng ta và về cách thức chúng ta đề cao âm nhạc do khả năng tạo xúc động của nó với chúng ta. Ông lập luận thuyết phục và tranh luận với một triết gia, rằng khi đi đến phân tích triết học của âm nhạc có những giới hạn của nó và người ta không nên ngạc nhiên rằng thẩm mỹ học trong âm nhạc có thể chứa những mâu thuẫn và phán đoán của chúng ta về giá trị của âm nhạc có thể là không thể đưa đến sự nhất quán nội tại. Quyển sách lôi quyển và thích thú này sẽ thu hút quan tâm rộng rãi của những người yêu âm nhạc, những nhà phê bình, những người thực hành âm nhạc, cũng như những sinh viên mỹ học tìm kiếm một giải đáp không-chuyên môn cho chủ đề này.

 

Mục lục

Lời cảm ơn

Giới Thiệu

1. Dạo Khúc Và Những Khởi Đầu

Những Suy Đoán Ban Đầu

Eduard Hanslick

Edmund Gurney

Di Sản

2. Tác Phẩm Âm Nhạc

Điều Gì Tạo Nên Nghệ Thuật Âm Nhạc?

Tác Phẩm Âm Nhạc

3. Ý Nghĩa

Âm Nhạc Và Ngôn Ngữ

Khả Năng Khơi Gợi

Cơ Sở Cho Những Tả Biểu Cảm

Giới Hạn Của Mô Tả Âm Nhạc

Ý Nghĩa

Sâu Xa Trong Âm Nhạc

4. Giá Trị

Tiêu Chuẩn

Lý Thuyết Người Quan Sát Lý Tưởng

Sự Đồng Thuận Giữa Những Người Sành Sỏi

Vấn Đề Về Sự Khác Biệt Không Thể Hòa Giải Của Phán Đoán

Điểm Mấu Chốt Với Người Theo Thuyết Duy Thực

Những Phán Quyết Về Cơ Bản Là Cụ Thể Không?

Khái Niệm “Thích Thú Chú Ý”

Phán Quyết Về Những Phán Quyết

Coda

Ghi chú

Thư mục & Danh Mục Đĩa Nhạc

Index


 

Triết học của Âm nhạc - Một Dẫn Nhập [1]




 

Schubert, “To Music”, viết trong album của Albert Sowinski [2]

 

 


Dẫn Nhập

               .

“Người ta luôn luôn nghĩ một gì đó là đúng tất cả”. (Holden Caulfield trong JD Salinger, The Catcher in the Rye)

 

Vì bạn đã mở quyển sách này, để tôi đoán động cơ nào khiến bạn làm như vậy. Bạn có thể, giống tôi, quan tâm đến triết học của âm nhạc vì đời sống của bạn với âm nhạc. Bạn có thể thấy bối rối rằng thẩm khiếu của bạn đôi khi có phần đặc biệt, đôi khi khác biệt ngay cả với những người vốn cùng đam mê với bạn. Âm nhạc bạn yêu thích làm ngán ngẩm một số người. Bạn có thể tự hỏi không biết bạn đúng hay sai. Bạn có thể tự hỏi dựa trên cơ bản nào một số nhạc được nghĩ là có ý nghĩa hơn một số nhạc khác. Bạn có thể đã ngẫm nghĩ không biết âm nhạc có ý nghĩa gì không. Bạn có thể tự hỏi về sức mạnh của nó kích động chúng ta, khiến chúng ta phải trào nước mắt. Bạn có thể đã từng hoang mang bởi một số sự việc bạn đọc trên báo. Có thể nào gắn pháo bông vào một pianô và sau đó đốt nó lên thì thực sự được coi như âm nhạc? Tôi cũng thế, đã thấy những vấn đề này khó hiểu, và chúng đã dẫn tôi đến suy ngẫm một vài những trả lời đã được đưa ra. Vì đóâm nhạc và những phản ứng của chúng ta với nó, thaynhững gì có thể xảy ra của một lĩnh vực khác vốn trên đó huấn luyện chuyên môn triết học có thể thực hành, đã trước tiên làm bật lên quan tâm của tôi. Những câu hỏi tôi nêu ra, chủ yếu là những câu hỏi về giá trị của âm nhạc, về tính cá nhân trong thẩm định của chúng ta và về cách chúng ta đánh giá âm nhạc vì sức mạnh của nó thúc đẩy chúng ta. Ngay cả với những vấn đề khác, chẳng hạn như điều gì tạo nên một bản nhạc, câu hỏi về giá trị vẫn được đặt ra. Thoạt đầu, thật khó để thấy việc đốt pháo bông cho một pianô có thể có giá trị như thế nào; thực sự, với một người chơi pianô, đó là một tội lỗi, vì những pianô có đặc tính riêng của chúng. Như thế, không thể tránh, chúng ta được dẫn đến sự thảo luận kéo dài về giá trị nghệ thuật vốn tạo thành chương cuối của quyển sách này. Tôi tin rằng ý niệm nghệ thuật và ý niệm giá trị có liên hệ với nhau. Điều này, vẫn như vậy, ngay cả nếu hầu hết âm nhạc là tầm thường. Đáp ứng với nó và đánh giá nó thì giữ trung tâm của gặp gỡ của chúng ta với nó.

 

Đôi khi những câu hỏi này có thể trả lời được, và đôi khi dường như chúng không có trả lời. Chỗ chúng không có trả lời, tôi cố gắng cho thấy lý do. Nhưng trước hết một số suy ngẫm tổng quát. Âm nhạc có mặt ở khắp nơi. Đi vào một cửa hiệu hay một nhà hàng và có nhạc nền ở đó. Kể từ những năm 1930, những phim ảnh đều đi kèm với một số sáng tác âm nhạc lớn nhỏ khác loại. Càng ngày, những loan báo hay liên tục trên radio hay tivi đều kèm một nhạc hiệu. Hãy nghĩ xem nó thì đa dạng như thế nào – Rock, Ráp, nhạc dân[3] và nhạc phương Tây, nhạc giảng đạo nhà thờ bình dân [4], tụng ca [5], những bài hát (cổ vũ trong) bóng bầu dục, nhạc Jazz truyền thống trong pub, nhạc Jazz thời nay trong những club nhạc Jazz, âm nhạc thế giới, v.v. Tuy nhiên, những triết gia gần như đã hoàn toàn viết về âm nhạc cổ điển phương Tây, với sự loại trừ của loại âm nhạc vốn hầu hết mọi người quen thuộc. Tôi cho rằng nó có liên quan đến sự kiện là hầu hết những triết gia đều xuất thân từ những gia đình trung lưu, hay leo lên tầng lớp trung lưu, nơi đam mê với âm nhạc loại đó là phần của những gì cần thiết cho một đời sống tốt đẹp, trong ý hướng vốn Aristotle hiểu ý tưởng đó. Những người có học thức và có giáo dục rộng rãi thì có quan tâm với âm nhạc cổ điển. Sự nổi trội được giả định của âm nhạc cổ điển phương Tây hầu như khó có thể chỉ là một vấn đề của khiếu thưởng ngoạn về một thể loại âm nhạc nhất định do giai cấp trưởng giả thượng lưu, và sự nâng cao như hệ quả của nó lên trên những hình thức âm nhạc khác không chỉ đơn thuần là ý thích của giai cấp thống trị. Rốt cuộc, có thể biện luận rằng không có gì trong phần còn lại của thế giới âm nhạc có thể so sánh được với nó về chiều sâu, sự tinh tế và khả năng gắn kết củavới phần còn lại của đời sống chúng ta. Đây một phần là vấn đề của thuần túy kích thước. Một symphony [6] có thể kéo dài hơn một giờ. Nếu những bản nhạc khác vẫn tiếp diễn lâu như vậy – như một bài hát lao động [7] – thì có nhiều phần xảy ra là nó đã lập đi lập lại. Có lẽ chỉ trong âm nhạc cổ điển India, đâu đó, chúng ta mới có thể tìm thấy âm thanh được sắp xếp thành một tổng thể có cấu trúc dài thế này. Ở phần cuối của The Valkyrie, nhân vật Wotan tạm biệt người con gái yêu của ông, tiễn cô vào giấc ngủ vĩnh viễn, trong vòng lửa cháy bùng lên. Chỉ lời hát thì không thống thiết đến thế. Kết hợp với nhạc, nó thành cảm động đến mức không thể nào giữ nổi. Tiếp theo là một đoạn siêu việt cho dàn nhạc, có chuyển động-chậm kéo dài thì cần thiết cho sự gợi tả một giấc ngủ dài. Đây là một đoạn nhạc kịch nổi tiếng, thậm chí những người thấy cưỡng lại được Richard Wagner, cũng phải ca ngợi. Hãy để tôi dẫn một thí dụ khác. Ở đỉnh cao của Schumann Scenes from Goethe’s Faust ít được nghe, Faust hát về một khoảnh khắc của cái đẹp vốn thời gian không thể xóa được, phản ảnh sự kiện rằng bản chất thoáng qua nhất thời của kinh nghiệm con người không hủy được giá trị của nó. Schumann nhấn mạnh điều này với tất cả một dàn nhạc có sức mạnh khủng khiếp. Có lẽ Schumann là một nhà soạn nhạc đã được đề cao quá đáng, nhưng như điều này cho thấy, ông có tài năng lớn lao. Một cao đỉnh như vậy sẽ không có chỗ đứng, không cứu vãn được trong một tác phẩm dài. Đây là hai thí dụ của âm nhạc với một lời kịch. Cho một thí dụ thứ ba và cuối cùng, minh họa một đặc điểm rất khác biệt của âm nhạc cổ điển phương Tây, coi một movement (phần nhạc) thuần túy nhạc khí. Symphony số 5 của Prokofiev có lẽ là symphony hay nhất của ông (mặc dù người ta có thể biện luận để xếp hạng như thế cho Symphony số 6 ). Movement thứ hai của nó là một ‘cơn gió lốc’ của một scherzo đầy những ý tưởng không quên và chỗi bật ấn tượng. Tuy nhiên, Symphony số 5 là một symphony về chiến tranh; nó được sáng tác nhanh chóng năm 1944 và movement đầu tiên thì nặng nề và nghiêm trọng. Movement Scherzo có thể nghe thiếu nghiêm trang, suồng sã, nhưng mặt ngoài của nó, tôi nghi ngờ, thì bị hiểu lầm. Chuyển động điên cuồng của nó dễ dàng chuyển sang mê loạn; sợ hãi thì chỉ nằm ngay dưới mặt ngoài. Đó là sự sôi nổi bắt buộc của những ai đang trong nguy hiểm chết người. Để hiểu movement này, và có nhiều những tương đồng với Dmitri Shostakovich vĩ đại đương thời của ông, là hiểu ý nghĩa quan trọng của những mặt nạ. Trong một chế độ chuyên chế, những điều này là bản chất, nhưng chúng cũng có thể là một dạng của can đảm, khi một gì đó khác hơn bạo ngược chuyên chế đe dọa; cụ thể là cái chết trong thời chiến. Chỉ một nghệ thuật có khả năng sâu xa mới có thể gợi lên những suy nghĩ trên đời sống của chúng ta, vốn mang trong cách này, ngoài nghệ thuật đó.

 

Trong những văn hóa khác, âm nhạc có thể phục vụ những mục đích khác. Mức độ của sự lập lại thì phần lớn thiếu vắng trong âm nhạc cổ điển phương Tây, có thể là phần của những gì đòi hỏi để tạo một thu hút, giống như xuất thần, trong người nghe. Được lắng nghe trong nội dung văn hóa thích hợp, ý nghĩa của nó có thể trở nên rõ ràng. Những gì vốn âm nhạc phương Tây cho thấy, đến một mức độ lớn hay nhỏ hơn, là những tương đồng với tiểu thuyết, với một thuật kể vốn đi đến một tháo nút gỡ rối, và đó chỉ trong âm nhạc khá gần đây, như của Steve Reich và những người theo thuyết tối giản [8] khác, khiến chúng ta thấy một ngoại lệ với điều này.

 

Đây, có lẽ là thời điểm để mong đợi một kết luận khác. Nhìn chung, những triết gia có khuynh hướng, có lẽ dù không tự ý thức hay dù ràng dứt khoát, đều rơi vào khái niệm của Hegel rằng âm nhạc “tuyệt đối” hay “thuần túy” hay “âm nhạc đơn thuần” là đỉnh cao của nghệ thuật, vốn âm nhạc phương Tây, trong lịch sử lâu đời của nó , đã tiến triển. Sonata, symphony hay quatet đàn dây là những hình thức “cao hơn” so với ca khúc, vũ khúc, hay kịch vũ nhạc (opera). Những cái đẹp của chúng là cái đẹp của hình thức. Điều này tạo nên phần của một hệ tư tưởng vốn ăn sâu trong sự suy nghĩ về âm nhạc cổ điển. Tuy nhiên, mặc dù có những quyến của nó, tôi nghĩ là không dễ để bảo vệ những được gọi là “thuyết hình thức”[9] : ý tưởng rằng những giá trị của âm nhạc đều là không gì hơn ngoài sự hấp dẫn thẩm mỹ của những mẫu thức đẹp. Tôi đề nghị rằng âm nhạc không chỉ được bao quanh bởi những văn bản, vũ điệu, những cảnh ngộ kịch tính, nghi thức tế lễ và những chương trình tường thuật, nhưng cũng bởi những liên kết vốn có thể không chỉ đơn thuần cá nhân nhưng có thể hình thành những liên hệ với cảnh sắc và lịch sử của quê hương của nhà soạn nhạc, với tính khí thời đại [10] và với một bối cảnh xã hội và chính trị tạo thành một hào quang, một tấm nền sau phong phú, về những mặt vốn chúng ta “đọc” âm nhạc.

 

Nếu điều này kéo âm nhạc đến gần hơn với những nghệ thuật thường mang tính biểu hiện khác (kịch, tiểu thuyết, phim và hội họa biểu hiện con người và địa điểm, thực hay tưởng tượng), thì điều đó đáng để suy ngẫm về một số điểm khác biệt. Một đặc điểm nổi bật của nghệ thuật va hiếm khi được quan sát là những cá nhân khác nhau đặt ra những yêu cầu khác nhau với chúng. Tôi không biết tôi khác những người khác nhiều đến đâu về điểm này nhưng tôi vẫn nghe lại cùng một bản nhạc hay vẫn đọc lại cùng một bài thơ thường xuyên hơn tôi đọc lại một quyển tiểu thuyết, và tôi đọc lại một quyển tiểu thuyết thường xuyên hơn là xem lại một phim ci. Tôi giả định rằng một số người xem phim ci trên video thường xuyên như tôi nghe một bản nhạc yêu thích hay một số người đọc lại quyển Persuasion của Jane Austen cũng thường xuyên như nhau. Nhưng ngay cả khi đúng như vậy, âm nhạc vẫn tạo ra những đòi hỏi khá đặc biệt.

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Aug/2022)

(Còn tiếp... )

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



[1] Dịch theo R. A. Sharpe, Philosophy of Music: An Introduction (London: Routledge, 2004)

Những chú thích trong ngoặc vuông [ ... ] dịch từ nguyên bản.

Những chú thích khác, với những sai lầm nếu có, là của tôi, sẽ tìm chữa sau

 

[2] Ôi nghệ thuật linh thiêng, đã bao lần trong những giờ đen tối, Khi vòng man rợ của đời sống siết chặt quanh ta, Ngươi đã gieo trong tim ta tình yêu nồng ấm – Đã đem ta đến một thế giới đẹp hơn! – Đem ta đến một thế giới tốt hơn – Thường thì một tiếng thở dài thoát ra từ đàn thụ cầm của ngươi – Một hợp âm ngọt ngào, thiêng liêng của ngươi – Đã mở ra những thiên đường đến những thời gian tốt đẹp hơn cho ta, – Ôi nghệ thuật linh thiêng, ta cảm ơn ngươi vì điều đó! – Ôi nghệ thuật linh thiêng, ta cảm ơn ngươi!

[3] country music

[4] gospel music

[5] hymns

[6] Tôi dùng những từ ngữ trong âm nhạc phương Tây (thường là tiếng England) đã phổ thông trên thế giới

[7] work song: bài hát khi làm việc

[8] minialism: thuyết tối giản, trong âm nhạc là một phong trào tiên phong có đặc trưng là sự lặp lại của những câu rất ngắn và thay đổi dần dần, tạo ra hiệu ứng thôi miên. Tối giản là một phong cách hoặc kỹ thuật (như trong âm nhạc, văn học hoặc kiến trúc, thiết kế) có đặc trưng là sự cực kỳ thanh đạm, mộc mạc và đơn giản. Tất cả được đánh dấu bởi sự trong sáng, có mục đích và có chủ ý.Trong cốt lõi, tối giản có nghĩa là có chủ đích quảng bá những sự vật việc chúng ta coi trọng nhất và loại bỏ tất cả những gì khiến chúng ta đánh mất tập trung vào nó.

[9] formalism

[10] Zeitgeist: bầu không khí tri thức, đạo đức và văn hóa chung của một thời điểm cụ thể