Tuesday, September 25, 2018

Mark Siderits – Đạo Phật như Triết học (02)


Đạo Phật như Triết học
Một Dẫn nhập
Mark Siderits








CHƯƠNG HAI
Đạo Phật ban đầu: Những Giảng dạy Cơ bản

Trong chương này, chúng ta sẽ thăm dò những giảng dạy cơ bản của đạo Phật thời đầu, những giảng dạy của đức Phật và những học trò trực tiếp của ngài. Điều này sẽ dùng để giới thiệu một tập hợp gồm những nguyên lý vốn tất cả những triết gia đạo Phật đều chấp nhận. Trong những chương sau chúng ta sẽ xem xét những triết gia đạo Phật khác nhau đã khai triển thế nào những giảng dạy cốt lõi này trong những phương cách khác biệt. Nhưng trước khi chúng ta nắm được những ý tưởng cơ bản đó vốn chung cho tất cả những trường phái đạo Phật, có thể là ích lợi để nói một vài lời về cuộc đời đức Phật.



2.1
Ngoài sự nghiệp như một người dạy học, có rất ít được biết với nhiều tin cậy về những chi tiết của cuộc đời của đức Phật Gautama. Gần đây, những học giả đã khá chắc chắn rằng ngài sống trong khoảng thời gian từ năm 566 đến 486 TCN. Nhưng có nghiên cứu mới, cho rằng năm chết của ngài có thể muộn hơn, khoảng năm 404 TCN. [1] Như thế, nếu chúng ta chấp nhận truyền thống vẫn cho rằng ngài đã sống 80 năm, Vậy có lẽ cuộc đời ngài đã hoàn toàn nằm trong thế kỷ V TCN. Đức Phật ra đời ở một nước nhỏ, một nhà nước-thành phố độc lập Kapilavastu [2][3], quê hương của dòng Sakyas [4], trong phần bây giờ là vùng phía tây Nepal, gần biên giới với India. Ngài lớn lên trong những hoàn cảnh tương đối sung túc. Nhưng vào tuổi mới trưởng thành, đã chọn để từ bỏ cuộc sống ổn định của một chủ gia đình và đã trở thành một người tu khổ hạnh sống lang thang, hay śramaṇa, từ chỉ một người dành trọn đời mình cho đi tìm những trả lời cho những câu hỏi tinh thần nhất định nào đó.

Những śramaṇa, trong thế kỷ VI và V TCN ở India, đã biểu hiện cho một hiện tượng mới trong đời sống tôn giáo India. Họ đã phủ nhận những yếu tố then chốt của tư tưởng chính thống đạo Brahma đang thịnh hành, vì không đáp ứng thỏa đáng những quan tâm tinh thần, hay tâm linh, hay tôn giáo của họ. Tôn giáo Veda họ thách thức, đã tập trung vào một tập hợp gồm những bản văn, những Vedas, vốn những tu sĩ (đạo Brahma, và Hindu tiếp sau) giai cấp brahmin, coi chúng có nguồn gốc và có thẩm quyền siêu nhiên. Những bản văn này kèm với sự hoàn thành những nghi lễ và những hy sinh khác nhau, để duy trì trật tự cho vũ trụ và để đón nhận những lợi ích cho người đứng tên trong nghi lễ hay hy sinh đã thực hiện. Nhưng tập hợp mới của những ý tưởng liên quan với những khái niệm karma và tái sinh đã khiến những thực hành tôn giáo cổ xưa này dường như không đem lại hài lòng. Nếu sau khi chết, tôi sẽ chỉ lại sinh vào trong một số kiếp sống mới nào đó, vậy đâu là lý do trong sự cố gắng để làm tình trạng hiện tại của tôi được sung sướng hay hài lòng hơn? Không phải là tôi nên quan tâm hơn vào những kiếp sống sau kiếp này? Thật vậy, lý do đích xác để tiếp tục đời sống này sang đời sống sau là gì? Có phải chu kỳ đó cứ tiếp diễn mãi mãi không? Tôn giáo của những bản văn Veda đã xem dường được hài lòng cho đến chừng nào người ta vẫn nhận giữ những quan điểm theo tập quán cổ truyền về đời sống và hạnh phúc con người. Nhưng nếu mỗi chúng ta có chỉ một đời sống này trên trái đất (và có lẽ một đời sống khác sau khi chết), khi đó có thể là có ý nghĩa để dành trọn đời cho những thứ như khoái cảm, hay giàu có và quyền lực, hay địa vị xã hội của một người đạo hạnh.[5] Nhưng với sự ra đời của những ý tưởng mới về bản chất của đời sống con người, những trả lời cũ dường như không còn hoạt động nữa. Và như vậy, những śramaṇa đã đi tìm một giải thích mới về hạnh phúc con người và làm thế nào để đạt được nó.

Giữa những śramaṇa, có một số tuyên bố đã tìm được một giải pháp cho vấn đề hiện sinh của con người, và tỏ ra sẵn sàng dạy nó cho những người khác. Những trả lời của họ đều khác nhau, nhưng hầu hết cùng chung ý tưởng rằng hạnh phúc đích thực chỉ có thể tìm thấy bằng khắc phục sự thiếu hiểu biết của chúng ta về bản chất thực của chúng ta. Và hầu hết cũng đã đồng ý rằng trạng thái lý tưởng thực sự cho chúng ta phải gồm sự giải thoát (mokṣa) khỏi chu kỳ của những tái sinh [6]. Những śramaṇa cũng thăm dò một loạt rộng rãi những kỹ thuật để đi đến được trạng thái lý tưởng vốn họ đã tìm kiếm này. Chúng gồm những thực hành có tính chất ‘hành xác’ (khổ hạnh) khác nhau - thực hiện những khắc khổ nhiêm ngặt như nhịn ăn, giữ thân thể hoàn toàn bất động trong những thời gian dài, kiêng ngủ, và những loại tương tự giống vậy. Chúng cũng gồm nhiều thực hành suy tưởng hay yoga khác nhau: học cách để giữ tâm trí an bình và tập trung não thức vào chỉ một điểm đã chọn, thăm dò nhiều trạng thái thay đổi của ý thức, và những điều tương tự. [7]

Giống như những người mới lánh đời ẩn tu khác, sau khi từ bỏ cuộc sống của mình như một chủ gia đình, Gautama đã tìm gặp một vài śramaṇa để nhận làm thày dạy thích hợp. Theo như những thuật kể cổ nhất của chúng ta, ngài đã học tập với một số, và đã nắm vững những lý thuyết và kỹ thuật họ dạy, nhưng thấy những điều này đã không đủ. Sau đó ngài bắt đầu tự tìm kiếm một mình. Đi qua một lùm cây, trong một rừng hẻo lánh, ngài quyết tâm dành trọn một đêm nỗ lực tập trung suy tưởng để giải quyết vấn đề về đau khổ của con người. Dùng một loạt những kỹ thuật yoga, ngài đã nhập vào bốn giai đoạn kế tiếp của thiền định, và do đó có được ba loại tri thức: hồi ức về những đời sống quá khứ của chính mình, hiểu biết về những luật tổng quát của karma, và kiến thức về những gì sẽ đi đến được gọi là Bốn Chân lý Cao quý. Kiến thức này báo hiệu sự giác ngộ của ngài (bodhi), sự đạt nirvanā hay giải thoát khỏi sự tái sinh. Sau khi đạt được mục tiêu của mình như thế, ngài đã suy xét có nên dạy khám phá của mình cho những người khác hay không. Lúc đầu, được nói là ngài đã bị những khó khăn và tinh tế của sự thật vốn đã tìm ra làm thoái chí. Nhưng cuối cùng ngài đã kết luận rằng có một số người có thể nắm được những sự thật này và như thế có thể nhận được lợi ích từ khám phá của mình. Vì vậy, ngài bắt tay vào sự nghiệp của một vị Phật, một người là người đã giải quyết vấn đề đau khổ của con người qua những nỗ lực của chính mình (không dựa vào những giảng dạy của những người khác) và với monng muốn giúp người khác có kiến thức giúp họ chấm dứtt đau khổ đời sống (từ bi) nên đã truyền đạt kiến ​​thức đó cho những người khác.

Còn có một ghi chép, nhiều chi tiết hơn, về đời của Gautama trước khi ngài giác ngộ. Trong chi chép đó, Gautama là một hoàng tử, cha của ngài, Suddhodana, là một vị vua uy quyền và giàu có. Gautama ra đời trong tinh khiết, được sinh ra không theo cách bình thường nhưng ra từ bên sườn người mẹ, không làm rách da hay gây đau đớn cho bà. Ngay lập tức sau khi sinh cậu bé đã đi bảy bước theo hướng của bốn hướng chính; thế giới đã phản ứng trong vang động, và hoa nở dưới những bước chân. Một tiên tri nói với Suddhodana rằng đứa trẻ sơ sinh này lớn lên sẽ là một vị Phật hay một vị vua của thế giới. Sẽ trở thành một vị Phật nếu trong tuổi thanh niên thấy được bốn điều: một người già, một người bệnh, một xác chết, và một người khổ hạnh lánh đời lang thang. Sẽ trở thành một vị vua vĩ đại nếu không thấy tất cả bốn điều đó. Suddhodana ước mong sao cho chắc chắn rằng đứa con trai đầu lòng của mình sẽ thành một vị vua vĩ đại, vì thế đã xếp đặt để Gautama lớn lên giữa một cung điện với những người trẻ, tươi khỏe và gợi cảm quyến rũ vây quanh. Trưởng thành trong một môi trường như thế, Gautama đã lấy vợ và có một con trai. Tuy nhiên, trong bốn ngày liên tiếp khi ra ngoài thành để đi săn, ngài đã thấy mỗi trong bốn cảnh tượng. Sau đó ngài quyết định trở thành một śramaṇa và một đêm đã trốn khỏi cung điện. Gautama đã trải qua nhiều năm với một số những thày dạy liên tiếp, nhưng chỉ sau khi tự khởi đi một mình, ngài đã thành công trong việc đạt cứu cánh giải thoát. Khi được giác ngộ, xuất hiện Marā, ác thần của cái chết, người cố gắng thuyết phục ngài đừng truyền đạt những khám phá của ngài cho thế giới. Nhưng có những vị thần khác đã can thiệp để bảo vệ ngài khỏi quyền lực của Mara và bảo đảm rằng có một vị Phật trong thế giới.

Giải thích nhiều chi tiết trau chuốt này về đời sống ban đầu của Gautama là cơ sở của những thuật tả phổ thông về đức Phật trong nghệ thuật và văn học đạo Phật. Nhưng phiên bản này của câu chuyện chỉ xuất hiện vài thế kỷ sau khi đức Phật qua đời. Nó phản ảnh rõ ràng tiến trình thông thường, trong đó đời sống của người sáng lập tôn giáo đã được cuộn trong huyền thoại. Thí dụ, chúng ta biết rằng Gautama không thể là một hoàng tử, hay cha của ngài cũng không thể là một vị vua, vì Kapilavastu không là một triều đình quân chủ trong thời của ngài. Cũng như vậy, đức Phật đã hầu như nhấn mạnh về điểm vốn ngài không là gì khác hơn một con người bình thường. Điều này dường như sẽ giải thích tại sao những câu chuyện về những kỳ diệu quanh sự ra đời và sự giác ngộ của ngài đều vắng mặt trong những thuật kể có sớm nhất về cuộc đời Gautama. Chỉ nhiều thời gian sau, một số những người theo ngài, có lẽ từ lòng truyền đạo nhiệt thành, đã biến đổi chuyện kể đời sống ban đầu của ngài thành một tiểu sử thần linh. Tuy thế, vẫn có những điều chúng ta có thể học được từ tiểu sử bồi đắp những huyền thoại này. Hãy xem xét chuyện kể bốn cảnh tượng, lấy thí dụ. Tại sao ai đó có lẽ đã tạo dựng huyền thoại, đã chọn một người già, một người bệnh, một xác chết, và một śramaṇa như những cảnh tượng vốn sẽ thúc đẩy một hoàng tử đang được nuông chiều từ bỏ cuộc sống quyền quí và xa hoa của mình? Rõ ràng vì ba người đầu tiên biểu thị thực tại về cái chết con người và khủng hoảng hiện sinh kết quả từ thực tại này, trong khi cảnh tượng thứ tư đại diện cho khả năng có thể có để ngăn chặn khủng hoảng. Điểm này sẽ chứng tỏ có ích khi chúng ta cố gắng hiểu những giảng dạy của đức Phật về sự đau khổ.


2.2
Trong khi chúng ta không biết được nhiều với chắc chắn về cuộc đời của Gautama trước khi ngài giác ngộ, chúng ta biết rất nhiều về sự nghiệp của ngài như một người thầy sau khi ngài giác ngộ. Lấy thí dụ, chúng ta biết rằng đầu tiên ngài đã dạy những hiểu biết sâu xa mới của mình khi đã gặp lại năm śramaṇa đồng hành cũ, tại làng Sārnāth, gần thành Vārānasi. [8] Chúng ta sẽ xem xét ghi chép của gặp gỡ đó sau, nhưng có thể là có ích để bắt đầu với một khái quát. Có vẻ rằng những người quên mình lánh đời này đã theo một con đường của khổ hạnh cực đoan, nhưng khi Gautama rời những người này, tự bỏ đi độc lập tìm chân lý giải thoát, ngài cũng đã buông bỏ những thực hành loại như vậy. Vì thế bây giờ họ nghi ngờ ngài đã rơi về một đời sống phóng túng hư hỏng. Do đó, ngài bắt đầu bằng mô tả con đường vốn ngài đã khám phá như một ‘con đường ở giữa’ hai thái cực của đời sống ép xác khổ hạnh và đời sống vật dục khoái lạc. Sau đó ngài mô tả con đường này là một ‘con đường cao quí tám nhánh’, liệt kê tám thành phần thực hành của nó: nhìn đúng, ý định đúng, nói đúng, hành động đúng, sinh sống đúng, nỗ lực đúng, nhớ nghĩ đúng và tập trung suy tưởng đúng. Điều này dẫn đến liệt kê bốn sự thật cao quý một cách tự nhiên, vì tuyên bố rằng có một con đường như vậy là sự thật thứ tư trong bốn sự thật cao quí.  Bốn sự thật này, trong hình thức tóm tắt là:
1. Có đau khổ.
2. Có sự khởi đầu của sự đau khổ: đau khổ xuất hiện trong đời sống tùy thuộc vào những nguyên nhân.
3. Có sự chấm dứt của đau khổ: mọi đau khổ tương lai đều có thể tránh khỏi.
4. Có một con đường đi đến sự chấm dứt của đau khổ.

Bây giờ, sự thật thứ hai sau này được xây dựng dưới dạng một chuỗi mười hai mắt xích móc nối những nguyên nhân và hiệu quả, mắt xích đầu tiên là sự không hiểu biết (vô minh). Và không hiểu biết trong câu hỏi sẽ giải thích như thất bại không hiểu được ba đặc tính của thực tại: không gì có mãi mãi, khổ, và không tự ngã (vô thường, khổ và vô ngã). Do đó, là ý nghĩa quan trọng để đức Phật tiếp tục dạy năm người quên mình lánh đời này lý thuyết không-tự-ngã, và hơn thế nữa, ngài biện luận về không-tự-ngã trên những nền tảng rằng tất cả những tạo phần của mỗi con người đều luôn luôn thay đổi (không bất biến). Cuối cùng, theo như bản kinh kể lại giảng dạy đầu tiên này, nó kết thúc với tất cả năm śramaṇa đều đạt giác ngộ.

Để tóm tắt, ở giai đoạn đầu này trong sự nghiệp giảng dạy của đức Phật, chúng ta thấy đưa dẫn về những học thuyết và ý tưởng sau đây:

• đạo Pháp (dharma) như một đường đi giữa (những cực đoan),
• Tám Con đường Chân chính,
• Bốn Sự thật Cao quý,
• Chuỗi liên kết vòng xích của Mười hai Nhân Duyên,
• Ba tính chất đặc biệt của những pháp (dharma) [9]

Bây giờ chúng ta hãy xem xét chúng chi tiết hơn. Học thuyết Bốn Sự thật đóng một vai trò kết hợp trung tâm trong những giảng dạy của đức Phật, vì vậy chúng ta nên bắt đầu ở đây. Sự thật thứ nhất, rằng có đau khổ, dường như đủ rõ ràng [10]. Và thật rất khó gạt đi để nói rằng điều này thì không đúng: có quá nhiều đau khổ trên thế gian. Nhưng điều này nêu lên câu hỏi tại sao Phật đã nghĩ nên cần thiết để chỉ vào nó. Thực sự, những người đạo Phật tuyên bố sự thật này, hiểu đúng rõ, là một trong những điều khó khăn nhất cho hầu hết người ta nhìn nhận sự kiện này. Đây là sự thật thứ nhất của bốn sự thật vì đức Phật nghĩ nó là một gì đó những người bình thường cho là không đúng. Để thấy lý do, chúng ta cần phải hiểu ở đây chỉ những gì có nghĩa là ‘khổ’. Và đây là chỗ truyền thuyết về bốn cảnh tượng đức Phật đã nhìn thấy ở thành Kapilavastu trở thành liên quan, thích hợp. Những gì nó nói với chúng ta là qua từ ‘khổ’ này những người đạo Phật không nói với nghĩa là đau đớn bình thường, chẳng hạn như những gì chúng ta cảm thấy khi chúng ta bị thương hay bị bệnh. Thay vào đó, họ nói về sự đau khổ ‘hiện sinh’ hay sự đau khổ của đời sống đang có này - sự thất vọng, xa lạ và tuyệt vọng vốn kết quả từ việc thể hiện bản chất phải-chết của chính chúng ta. Hãy nhớ rằng theo truyền thuyết, Gautama đã không trở thành một vị Phật nếu đã không gặp những sự thật về già, bệnh, suy tàn và chết này, nếu như thường vẫn đợi cho đến cuối đời mình. Những sự kiện này có những gì làm sự nhìn nhận của chúng thành có ý nghĩa? Phải, chúng ta đều muốn cuộc sống của chính mình tiến triển tốt đẹp. chúng ta muốn được hạnh phúc. Và khi chúng ta muốn hạnh phúc, điều chúng ta muốn đòi hỏi một cảm nhận rằng đời sống của chúng ta có ý nghĩa, giá trị và mục đích. Dĩ nhiên những cá nhân khác nhau được làm cho cảm nhận hạnh phúc bằng những sự vật việc nhiều loại khác nhau. Nhưng khi một gì đó làm cho một ai đó hạnh phúc, đó là vì nó đưa người ta đến nói những điều tốt đẹp về họ là ai và họ đang tiến đi đâu. Khó khăn là một khi chúng ta bị buộc phải thừa nhận cái chết không tránh được của chính mình, nó trở nên khó khăn để duy trì cảm xúc rằng những sự kiện có thể có ý nghĩa cho đời sống của tôi. Làm sao mọi sự việc có thể đóng góp vào ý nghĩa của đời sống của tôi trong khi về lâu về dài tôi rồi sẽ chết, với thế giới vẫn tiếp tục vui vẻ trên đường của nó nhưng không có tôi? Bây giờ trong một mức độ nào đó chúng ta đều biết rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ chết, thế nhưng chúng ta dường như vẫn tiếp tục sống sống đời chúng ta với giả định rằng cái chết có thể hoãn lại đến vô thời hạn. Đó là khi những sự kiện cho thấy giả định này sai lầm khiến đau khổ của đời sống mới phát sinh.

Đây là một trong những điểm vốn tại đó bạn có thể nghĩ chúng ta chấp nhận học thuyết về karma và tái sinh có tạo nên khác biệt hay không. Quả thưc, bạn có thể nghĩ rằng giải thích về đau khổ đời người vốn vừa đưa ra chỉ có ý nghĩa nếu chúng ta phủ nhận học thuyết này. Và vì những người đạo Phật chấp nhận học thuyết này, bạn có thể ngờ rằng họ đã nói về ‘đau khổ’ phải mang một nghĩa gì đó khác hơn là sự đau khổ của đời người; ý nghĩa của thất vọng, xa lạ và tuyệt vọng xuất phát từ nhìn nhận bản chất tất-phải-chết của chúng ta. Xét cho cùng, nếu chúng ta sẽ sống một đời khác sau khi chết, cái chết của tôi không thể là sự kết thúc của tôi. Và nếu những gì tôi làm trong đời sống này sẽ ấn định loại đời sống nào tôi nhận được khi đến lần tiếp theo, không phải là những gì xảy ra với tôi bây giờ luôn luôn có ý nghĩa với sự sống tương lai của tôi? Vậy tại sao đau khổ của đời sống lại sẽ nổi lên với một người đã chấp nhận karma và tái sinh? Tuy nhiên, những người đạo Phật sẽ trả lời rằng những nghi ngờ này chỉ đon giản là minh họa cho thấy sự việc khó khăn đến thế nào để nắm bắt được bản chất thực của đau khổ. Truyền thống phân biệt giữa ba lớp khác nhau trong khái niệm đau khổ, mỗi lớp tinh tế hơn lớp trước của nó: đau khổ vì đau đớn vật lý, đau khổ vì không gì bất định nhưng luôn thay đổi, và đau khổ do phải chịu những điều kiện (nhân quả). Đó là điều cuối cùng trong những điều này nhằm giải thích tại sao sự kiện tái sinh chính nó lại tạo thành một loại đau khổ của sự sống. Nhưng để thấy tại sao những người đạo Phật nghĩ điều này, chúng ta cần phải nói một gì đó về hai cách đầu tiên vốn họ tuyên bố chúng ta kinh nghiệm đau khổ.


Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Aug/2018)





[1] Siddhārtha là tên, Gautama (Gautam hay Gauthama) là họ. Những năm tháng đều phỏng đoán (563/480 – 483/400 TCN). Kết hợp những nguồn cổ xưa và hiểu biết ngày nay để thiết lập cơ sở năm tháng vững vàng, có thể định: Siddhārtha Gautama sinh khoảng năm 484 TCN, thành đạo/giác ngộ năm 449 TCN, và chết năm 404 TCN.
[2] City-state trong nguyên văn – những tài liệu phổ biến xác định dòng họ Shakya (Sanskrit: Śākya, Pāli: Sākya) Śākyas thành lập và cai trị một nhà nước độc lập nhỏ, là Shakya Ganarajya, kinh đô là thành Kapilavastu (Pāli: Kapilavatthu), gần biên giới Nepal và tiểu bang Uttar Pradesh của India ngày nay. Gana-Rajya (chính quyền bình đẳng) hay Gana-Sangha (hội đồng bình đẳng) là loại chính thể của Shakya Ganarajya, tương đương với thể chế cộng hòa hay tập đoàn lãnh đạo theo nghĩa chúng ta có ngày nay. Chính thể loại này thường gặp ở những lãnh thổ nhỏ, vùng cao Đông India. Trong những vùng đất độc lâp này, gồm một thành phố lớn và phụ cận quanh nó, thường do một gia tộc (ví dụ: Shakya, dòng họ đức Phật), hoặc liên minh những gia tộc, (thí dụ dân tộc Koli, Uttar Pradesh) giữ quyền cai trị.
Truyền thuyết kể rằng Siddhārtha Gautama là một hoàng tử sống giam hãm trong cung điện, vì người cha là Suddhōdana đã ngăn ngừa không để con mình có thể tiếp xúc trực tiếp với những bằng chứng về sự đau khổ của con người. Suddhōdana, tương truyền là một vị vua thuộc dòng Shakyas. Nhưng tên gọi Suddhōdana (Sanskrit: Suddhōdana) cũng có nghĩa là ‘gạo thuần, gạo sạch/đã bỏ hết trấu’, cho thấy Shakyas có thể là một dòng họ giàu có chuyên về trồng-lúa. Ngày nay những học giả biết rằng vùng những sườn núi thấp của dãy Himalaya, thời đó đã được tổ chức thành những nước cộng hòa nhỏ, Như thế, cha của đức Phật cũng có thể là một quý tộc, có lẽ là một đại biểu của gia tộc Shakya trong một hội đồng cầm quyền. Trong Digha Nikaya, một trong những bản văn Pali kinh điển, cha của đức Phật được mô tả như một raja hay một vị vua. Nhưng trong khi raja nghĩa đen có nghĩa là "vua", từ ngữ này cũng được dùng rộng rãi như một bày tỏ tôn trọng lịch sự với những người trong những gia tộc đáng kính; danh từ dành cho một vị vua thực sự là maharaja. Những phần tô điểm cho câu chuyện cơ bản về cuộc đời của Đức Phật đã được xây đắp bền chặt qua nhiều thế kỷ, khiến một số người khó nhận ra ngài trong hình ảnh một con người bình thường. Nhưng dù ngài thuộc dòng vương giả hay quí phái hay không, thông điệp về sự chuyển đổi tư tưởng của ngài tại Kapilavastu và quyết định rời gia đình để tìm kiếm chân lý tối thượng vẫn tồn tại với thời gian: bất kỳ một người nam hay nữ nào đều có thể mở tâm trí của mình đón nhận ánh sáng của chân lý giải thoát để chấm dứt đau khổ của kiếp người, bất kể giàu nghèo, cao thấp trong địa vị xã hội Sau khi giác ngộ ở Bodhi Gaya, Gautama trở lại Kapilavastu nhiều lần, luôn luôn đi bộ. Nhiều người trong gia đình và thân tộc của ngài đều đã qui y, gồm cả người anh em cùng cha khác mẹ là Nanda, con trai là Rahula, những anh em họ là Ananda, Aniruddha, và Devadatta, và cả một người thợ cắt tóc là Upali. Người cha Suddhōdana, và người vợ cũ của ông, Yashodhara, cũng đều đón nhận giáo lý của đức Phật. Năm tám mươi tuổi, đức Phật khi bắt đầu đau yếu nặng, đã cố gắng về lại Kapilavastu, như để rời bỏ cõi đời nơi mình đã ra đời, nhưng ngã bệnh dọc đường (có lẽ do ngộ độc thức ăn) và đã mất ở Kushinagar, một thị trấn hẻo lánh (nay thuộc Uttar Pradesh, India).
[4] [Thế nên, những tên hiệu sau này ngài có, Śākyamuni hay ‘người hiền’ của dòng Śākyas]
[5] Trong khi phong trào śramaṇa có thể đã bắt đầu như một cuộc phản đối chống lại tư tưởng chính thống Brahma, truyền thống Veda cuối cùng đã đáp lại thách thức này bằng cách phát triển một số hệ thống riêng của mình để đạt được giải thoát hay mokṣa. Chúng bao gồm những trường phái triết học như Samkhya, Nyāya và Advaita Vedānta. Những trường này được gọi là’chính thống’ bởi vì chúng chấp nhận thẩm quyền của Vedas. Trong điều này, chúng khác với đạo Phật và những trường phái ‘không chính thống’ khác (như đạo Jain), vốn phủ nhận Vedas có bất kỳ tư thế thẩm quyền đặc biệt nào. Qua những trường phái chính thống, truyền thống Brahmanical trong thực tế đã ủng hộ mokṣa như một mục tiêu thứ tư có thể trong đời sống, ngoài ba mục tiêu nguyên thủy: kama, artha  dharma.
[6] Moksha, cũng viết là mokṣa, cũng còn gọi là mukti, trong tôn giáo và triết học India, là sự giải thoát khỏi chu kỳ của chết và tái sinh (samsara). Gốc Sanskrit là ‘muc’ (“tự do, thoát khỏi”), từ moksha nghĩa đen là giả phóng khỏi samsara. Khái niệm giải phóng hay giải thoát này đều có chung rộng rãi trong những truyền thống tôn giáo India, gồm đạo Hindu, đạo Phật, và đạo Jain.
[7] Trong khi nội dung những Vedas đã không dạy tái sinh, chúng không hoàn toàn rõ ràng về câu hỏi của một thế giới bên kia. Tư tưởng đạo Brahma của thời đó cũng công nhận ba mục tiêu có thể có trong đời người: khoái lạc nhục cảm (kama), giàu có và quyền lực vật chất (artha), và đức hạnh và uy tín xã hội (dharma). Đối với mỗi mục tiêu trong số đó được cho là một ‘khoa học’ đặc biệt liên quan đến những phương pháp để có được nó. Và một tài liệu được phát triển quanh mỗi khoa học. Thế nên, Kama Satra, ví dụ, là văn bản nổi tiếng, nền tảng cho một khoa học truyền thống nhằm có được sự khoái lạc nhục cảm.
[8] [Những giảng dạy của đức Phật được gọi chung là Dharma. (trong cách dùng thông thường, vẫn dịch là ‘luật’ (pháp, đạo Pháp); chúng ta sẽ gặp những cách dùng khác của cùng từ Sanskrit). Truyền thống đạo Phật nói đến sự gặp gỡ tại Sārnāth là ‘lần đầu tiên chuyển vòng quay của Dharma’.]

[9] Tôi cố gắng ‘Việt hóa’, nếu có thể được, những khái niệm quen thuộc như: Trung Đạo (Majjhimà Patipadà), Tứ Diệu Đế (cattāri ariya-saccāni), Bát Chánh/Chính Đạo (āryāṣṭāṅgamārga), Thập Nhị Nhân Duyên (Tương Khởi/Pratītyasamutpāda), Tam Pháp Ấn (tilakkhaṇa)
[10] Khổ (Dukkha): Có nghĩa là “không vừa lòng / không thỏa mãn – không toại ý” và thường dịch là “khổ”, mặc dù dịch như thế thường gây hiểu nhầm là chỉ bi quan và tiêu cực. Nhưng nếu suy ngẫm để nhìn nhận – bản chất chúng ta là những sinh vật trong một thế giới vật chất, nghĩa là chịu những động lực tự nhiên của tiến hóa, phải thay đổi, thích ứng để sống còn – không bao giờ và cũng không thể có/ nắm giữ bất kỳ một trạng thái, dù hài lòng hay không hài lòng, được lâu dài. Mỗi chúng ta và một thế giới sống của chúng ta, từng nguyên tử của nó đều đang trong tiến tình chuyển hóa liên tục, hiểu như những gì đang có đều phân rã, những gì đang thực sự là những gì đang trở thành là.