Sunday, August 13, 2017

Plato - Republic (06)

Plato
The Republic 
(Πλάτων - Πολιτεία)








QUYỂN 4

Tóm lược: Quyển IV, 419a-434c

Adeimantus ngắt lời Socrates để chỉ ra rằng làm một người cai trị nghe có vẻ bất hạnh đáng ghét. Vì người cai trị không có tài sản riêng, người này không bao giờ có thể đi chơi, giữ một người tình, hay làm những điều mọi người nghĩ sẽ làm họ vui sướng. Socrates trả lời bằng cách nhắc nhở những bạn ông rằng mục tiêu của họ trong việc xây dựng thành phố này không phải để làm bất kỳ một nhóm nào hạnh phúc với thiệt hại cho bất kỳ một nhóm nào khác, nhưng để làm thành phố, như một tổng thể, thì hạnh phúc như nó có thể hạnh phúc được. Chúng ta không thể đem cho những giám hộ loại hạnh phúc khiến có thể làm họ trở thành một gì đó khác hơn là những người giám hộ. Ông so sánh trường hợp này với việc đắp một pho tượng. Màu sắc đẹp nhất trên trần gian, ông nói không rào đón, là màu tím. Vì vậy, nếu ý định của chúng ta là làm cho mắt của pho tượng càng đẹp càng hay, chúng ta sẽ sơn màu tím. Nhưng, điều này sẽ làm giảm cái đẹp của pho tượng như một tổng thể, vì không mắt người nào thực sự có màu tím, thế nên chúng ta không vẽ mắt tượng màu tím. Trên pho tượng, như trong thành phố, chúng ta phải giải quyết với từng phần một cách hợp lý, để tình trạng tốt của toàn bộ thành tốt nhất.

Socrates tiếp tục để nói về một số đề tài liên quan đến lối sống của những người giám hộ. Ông bảo Adeimantus, người yêu-tiền bạc, rằng sẽ hoàn toàn không có giàu có hay nghèo đói gì hết tất cả trong thành phố, vì sẽ không lưu hành tiền. Adeimantus phản đối rằng một thành phố không có tiền không thể tự bảo vệ mình chống lại những xâm lược, nhưng Socrates nhắc nhở Adeimantus rằng thành phố chúng ta sẽ có những chiến binh giỏi nhất và chỉ ra rằng bất kỳ thành phố lân cận nào tất cũng vui sướng đến trợ giúp, nếu chúng ta hứa sau chiến tranh sẽ cho họ tất cả những chiến lợi phẩm. Socrates giới hạn quy mô của thành phố, báo trước rằng đừng để nó trở nên quá lớn khiến nó không còn được cai quản tốt trong hệ thống hiện hành. Ông đề nghị rằng những người giám hộ đặc biệt phải gìn giữ sự giáo dục cơ bản cho chính họ trên hết, và nói rằng họ chia sẻ tất cả mọi sự vật việc giữa họ với nhau, gồm cả những người vợ và những đứa con. Ông tuyên bố rằng thành phố công chính không dùng đến luật pháp. Nếu giáo dục của những người giám hộ tiến hành như hoạch định, khi đó những giám hộ sẽ trong một vị thế để quyết định bất cứ vấn đề nào phát sinh từ chính trị. Tất cả những gì chúng ta nghĩ như một vấn đề của luật pháp có thể được dành lại cho sự phán quyết của những nhà cai trị được giáo dục thích hợp.

Socrates tuyên bố thành phố công chính đã được làm xong. Vì thành phố này đã được tạo ra để là thành phố tốt nhất có thể có, chúng ta có thể được chắc chắn rằng nó có tất cả những phẩm hạnh. Để xác định những phẩm hạnh này, tất cả những gì chúng ta cần làm là nhìn vào thành phố của chúng ta và nhận ra chúng. Thế nên, bây giờ chúng ta sẽ tìm mỗi trong bốn phẩm hạnh: trí tuệ, can đảm, điều độ và công chính.

Đầu tiên, chúng ta tìm thấy sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan nằm ở những người giám hộ vì sự hiểu biết của họ về cách thành phố nên được điều hành như thế nào. Nếu những người giám hộ đã không nắm quyền cai trị, nếu nó đã là một chế độ dân chủ, hãy tạm nói, phẩm hạnh của họ sẽ không chuyển vào thành phẩm hạnh của thành phố. Nhưng vì họ đảm trách việc cai trị, khôn ngoan của họ trở thành phẩm hạnh của thành phố. Sự can đảm nằm ở những người giám hộ giữ vai trò trợ giúp. Chỉ có can đảm của họ mới được kể như một phẩm hạnh của thành phố vì họ là những người phải chiến đấu cho thành phố. Một nông dân can đảm, hay ngay cả một người cai trị can đảm, sẽ không làm được gì tốt đẹp cho thành phố. Sự ôn hòa điều độ và công chính, trái với sự khôn ngoan và can đảm, được lan truyền khắp thành phố. Ôn hòa điều độ được tìm thấy trong sự đồng thuận về ai sẽ cai trị thành phố, và công chính, cuối cùng là sự bổ túc cho sự hoàn thiện của nó – nguyên lý của sự chuyên môn hóa, qui luật rằng tất cả mọi người làm công việc mà họ thích hợp nhất với nó.

Như thế bây giờ chúng ta đã đạt được một trong hai ý định của chúng ta, ít nhất là phần nào. Chúng ta đã xác định công chính trên một bình diện toàn thành phố. Công việc tiếp theo của chúng ta là xem liệu có một phẩm hạnh tương đồng nào trong trường hợp của cá nhân hay không.

Phân tích: Quyển IV, 419a-434c
Socrates cuối cùng đã đưa ra một định nghĩa về công chính. Định nghĩa này mang đậm dấu giống như hai định nghĩa công chính đã đưa ra trong Quyển I. Cephalus đã bạo dạn nói rằng công chính là sự tôn trọng những nghĩa vụ pháp lý, trong khi Polemarchus, con trai ông, nêu ý rằng công chính là tương đương với giúp đỡ những người bạn và gây hại cho những thù địch của mình. Hai định nghĩa này được nối với nhau bởi sự bắt buộc của việc cung ứng những gì mang nợ, hay cho đem cho mỗi người những gì là thích hợp. Cùng một mệnh lệnh này thấy cũng diễn tả khác biệt trong định nghĩa công chính của Plato – công chính như một sự dàn xếp chính trị trong đó mỗi cá nhân đóng vai trò thích hợp. Những gì mỗi người mang nợ thì được đem trả tất cả cùng một lúc. Mỗi người được giao vai trò trong xã hội vốn thích hợp nhất với bản chất của họ và vốn phục vụ tốt nhất cho xã hội như một toàn thể.

Trong một ý hướng, Polemarchus và Cephalus như thế đã không sai lầm quá xa. Tuy nhiên, khi đi theo những khái niệm truyền thống, họ đã nghĩ về công chính như là một tập hợp của những hành động, thay vì như một cấu trúc cho xã hội, một hiện tượng lan toả trên khắp một thành phố như một toàn thể.

Ngoài định nghĩa về công chính, chúng ta cũng có những định nghĩa của bốn phẩm hạnh kia trong đoạn này. (Phẩm hạnh) can đảm của thành phố, Socrates nói với chúng ta, nằm trong những giám hộ giữ vai trò trợ tá, vì chỉ là sự can đảm của họ sẽ tác động vào thành phố như một toàn thể. Tuy nhiên, ngay sau khi đưa ra tuyên bố này, ông tiếp tục nói với chúng ta rằng những gì có trong những giám hộ trợ tá, không chỉ đơn giản là can đảm nhưng cũng còn một gì đó ông gọi là “can đảm dân sự”. Nhiều học giả đã giải thích can đảm dân sự như một loại can đảm hạng nhì. Những gì những giám hộ trợ tá có, Socrates nói với chúng ta, là những tin tưởng đúng thực về những gì đáng sợ và những gì không đáng sợ. Can đảm của họ dựa trên tin tưởng của họ, thay vì kiến thức. Về sau trong tập sách, ông chỉ ra rằng phẩm hạnh thực sự phải được xây dựng trên kiến thức, cho thấy rằng phẩm hạnh dựa trên thói quen hay tin tưởng và không phải kiến thức sẽ thất bại nếu sự việc trở nên rất khó khăn. Vì chỉ những người giám hộ mới có kiến thức, chỉ những người giám hộ mới có thể thực sự là phẩm hạnh hay là can đảm.

Tóm lược Quyển IV, 435d-hết
Bây giờ Socrates đã xác định công chính xã hội, ông quay sang tìm công chính cá nhân. Công chính trong cá nhân, như trong thành phố, liên quan đến quan hệ chính xác về quyền lực giữa những phần, với mỗi phần đóng vai trò thích hợp của nó. Trong cá nhân, những “phần” không phải là những tầng lớp của xã hội; Thay vào đó, chúng là những phương diện của hồn người – hay những nguồn của ham muốn.

Để giải thích công chính cá nhân tương đồng với công chính chính trị như thế nào, Socrates phải tuyên bố rằng có ba phần chính xác trong hồn người. Bằng cách liệt kê những ham muốn khác nhau của con người, ông xác định một phần dựa trên lý trí của hồn người vốn có khát vọng theo đuổi chân lý, một phần của hồn người vốn có khát vọng theo đuổi vinh dự, và một phần thèm khát của hồn người vốn có khát vọng theo đuổi mọi sự vật việc khác, gồm thức ăn, thức uống, tình dục, và đặc biệt là tiền bạc. Ba phần này của hồn người tương ứng với ba tầng lớp trong thành phố công chính. Phần thèm-ăn, hay phần yêu-tiền, là phương diện của hồn người nổi bật nhất giữa giai tầng sản xuất; Tinh thần hay phần yêu vinh dự thì nổi bật nhất giữa những người giám hộ trợ tá; và lý trí, hay phần yêu-kiến thức, chiếm ưu thắng giữa những người giám hộ.

Những quan hệ công chính giữa ba phần của hồn người phản chiếu những quan hệ công chính giữa những tầng lớp của xã hội. Trong một người công chính, phần dựa trên lý trí của hồn người cai trị những phần khác, với phần tinh thần đóng vai trợ giúp để giữ sự thèm khát thông tục trong vòng kiểm soát. Hãy so sánh điều này với thành phố trong đó những người bảo vệ yêu sự thật cai trị, với những người trợ tá yêu danh dự đóng vai giúp đỡ họ để giữ những người sản xuất yêu tiền bạc trong trong vòng kiểm soát. Khi nói một phần của hồn người “cai trị” những phần kia, có nghĩa là toàn bộ hồn một người đều theo đuổi những ước muốn của phần đó. Trong một hồn người được tinh thần cai trị, lấy thí dụ, toàn bộ hồn người hướng đến có được danh dự. Trong một hồn người sự thèm-ăn thông tục cai trị, toàn bộ hồn người nhắm đến làm thỏa mãn những thèm-ăn này, cho dù đó là thức ăn, thức uống, tình dục, hàng hóa vật chất tinh xảo, hay chồng chất của cải giàu có. Trong một hồn người công chính, hồn người thì hoàn toàn hướng đến làm thỏa mãn bất cứ gì lý trí ham muốn kiến thức tạo ra.

Bây giờ, Socrates đã hoàn thành mục tiêu đầu tiên của mình: ông đã xác định công chính trên cả hai bình diện chính trị và cá nhân. Tuy nhiên, trong khi đem cho một giải thích về công chính, ông đã chệch khỏi những khái niệm trực giác của chúng ta về phẩm hạnh này là gì. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ về công chính như một tập hợp những hành động, nhưng Socrates tuyên bố rằng công chính thực sự là một kết quả của cấu trúc của hồn người. Sau khi xác định công chính cá nhân, ông chứng minh rằng một cá nhân, người có hồn của mình trong sự xếp đặt đúng sẽ cư xử thuận hợp với những định mức trực giác của công chính. Ông cần cho thấy rằng khái niệm về công chính chúng ta vừa mới đến được thì không ngược lại với những trực giác của chúng ta – rằng khái niệm này cho thấy vị trí và trạng thái những trực giác của chúng ta và giải thích chúng. Socrates chỉ ra rằng vì cá nhân công chính của chúng ta được một lòng yêu sự thật cai trị, người này sẽ không trong những kìm kẹp của thèm muốn, tham lam, hay mong muốn danh dự. Vì lý do này, Socrates tuyên bố, chúng ta có thể yên tâm rằng người này sẽ không bao giờ ăn cắp, phản bội bạn bè hay thành phố của mình, phạm tội ngoại tình, coi thường cha mẹ, vi phạm tuyên thệ hay thoả thuận, bỏ bê những vị gót, hay thực hiện bất cứ hành động nào khác vốn thông thường xem là bất công. Lòng mạnh mẽ yêu sự thật của người này làm yếu những thúc dục có thể dẫn đến tật xấu.

Socrates kết thúc quyển IV bằng khẳng định rằng công chính xem như ngang bằng với sự lành mạnh của hồn người: một hồn người công chính là một hồn người với những phần được xếp đặt ứng hợp và do đó là một hồn người lành mạnh. Trái lại, một hồn người bất công là một hồn người không lành mạnh. Với sự kiện này, chúng ta bây giờ trong một vị trí có ít ngờ vực nhất rằng được đền đáp để là công chính. Xét cho cùng, chúng ta đã thừa nhận rằng sức khoẻ là một gì đó tự thân nó đáng mong muốn, do đó nếu công chính là sức khoẻ của hồn người thì điều đó cũng đáng mong muốn. Plato cảm thấy rằng ông vẫn chưa sẵn sàng để làm cho biện luận thành ủng hộ sự đáng giá của công chính. Ông tạm hoãn những bằng chứng dứt khoát cho đến tận quyển IX.

Phân tích: Quyển IV, 435d-hết
Từ ‘công chính’ được Plato áp dụng cho cả những xã hội và những cá nhân, và chương trình tổng quát trong Republic của Plato trước hết là giải thích khái niệm về công chính chính trị, sau đó diễn dịch thành một khái niệm tương đồng về công chính cá nhân. Plato định nghĩa công chính chính trị như hữu thể thừa hưởng cấu trúc. Một xã hội bao gồm ba tầng lớp người chính – những người sản xuất, những người phụ tá, và những người giám hộ. Xã hội công chính bao gồm trong những quan hệ đúng và cố định giữa ba tầng lớp này. Mỗi trong ba tầng lớp này phải làm công việc thích hợp, và chỉ công việc đó, và mỗi phải là ở trong đúng vị trí của quyền lực và tác động trong quan hệ với tầng lớp khác.

Trong phần này, Plato bắt đầu bằng cho thấy rằng ba tầng lớp của xã hội có những tương đồng thấy trong hồn của mỗi cá nhân. Nói cách khác, hồn người, giống như thành phố, là một thực thể ba phần. Cá nhân công chính có thể được định nghĩa trong tương đồng với xã hội công chính; ba phần của hồn người đều cố định trong những quan hệ thiết yếu của quyền lực và ảnh hưởng. Để làm cho tuyên bố này hoạt động, Plato phải chứng minh rằng thực sự hồn người có ba phần.

Có hai chân đứng riêng biệt hỗ trợ của luận chứng về hồn người có ba phần, và quan hệ giữa chúng thì không rõ, khó hiểu. Chân đứng hỗ trợ thứ nhất cố gắng để thiết lập sự hiện diện của ba tập hợp riêng biệt gồm những mong muốn trong mỗi cá nhân. Chân thứ hai biện luận rằng ba tập hợp của những mong muốn này tương ứng với ba nguồn mong muốn khác nhau, ba phần riêng biệt của hồn người. Kết luận sau cùng là mỗi cá nhân có một hồn người ba phần. Plato đã phân loại những mong muốn, vì để thiết lập chứng minh rằng có ba phần riêng biệt của hồn người mà không thiết lập trước hết rằng có ba loại mong muốn này, sẽ không hiệu quả về mặt hình ảnh hay thuyết phục. Chân đứng hỗ trợ đầu tiên nối sự chuyển dịch từ bình diện xã hội sang bình diện cá nhân bằng cách cho thấy những thuộc tính của nhóm bắt gốc từ những thuộc tính của cá nhân.

Tại sao là điều quan trọng cho Plato để làm cho rõ rằng ba loại này của mong muốn có mặt trong mỗi cá nhân tương ứng với ba nguồn độc lập của mong muốn? Tại sao không là đủ để chủ trương rằng ba sức mạnh này đều được cùng một chủ thể phô bày ở những thời điểm khác nhau, nhưng không tương ứng với ba phần riêng biệt của hồn người?

Sự phân biệt này cho phép ba loại của mong muốn được thực hiện đồng thời. Công chính chính trị là một thuộc tính có tính cấu trúc, gồm trong những quan hệ của ba phần thiết yếu. Những quan hệ tạo thành sự hài hòa chính trị thì cố định và tĩnh trong cùng một ý nghĩa như những tỷ lệ toán học tạo nên sự hài hòa âm nhạc. Trong mỗi cá nhân, mặc dù những mong muốn đến và đi, quan hệ giữa những phần của mong muốn khác nhau vẫn cố định. Sự phân chia ba phần của hồn người là điều cốt yếu đối với dự án tổng thể của Plato nhằm đưa ra cùng một loại giải thích về công chính cho dù áp dụng với xã hội hay cá nhân.

Plato bắt đầu lập luận của ông về hồn người ba phần bằng cách đưa lên một tiêu chuẩn cho việc ấn định sự cá biệt. Cùng một sự vật việc không thể cùng một lúc chịu ảnh hưởng theo hai cách trái ngược nhau (436c). Như những cặp của những đối lập, ông bao gồm “đồng ý và chống đối, muốn có một gì đó và từ chối nó, lấy một gì đó và đẩy nó đi” (437b). Plato biện luận cho sự đúng thật của tuyên bố này bằng cách đưa ra những tương đồng từ hành vi của cơ thể – một phương pháp có vẻ như không chính đáng, với điều kiện ông muốn sử dụng nguyên tắc để áp dụng cho những khía cạnh của hồn người (đặc biệt, chống lại những thèm muốn) không phải với những đối tượng vật chất.

Để làm bước nhảy vọt từ những quan sát về những sức mạnh và những mong muốn đến những kết luận về những phần của hồn người, Plato dựa luận chứng trước sau trên một luận điệu siêu hình bị dìm khuất. Nơi nào có ham muốn, sẽ có tác nhân của ham muốn: đó là sự vật việc ham muốn. Bằng cách sử dụng tiền đề này và tiêu chuẩn cho việc ấn định sự cá biệt, ông sẽ đi đến ba phần riêng biệt của hồn người, tương ứng với ba phương diện vốn ông đã xác định bên trong thành phố.

Plato cố gắng trước tiên để thiết lập sự hiện hữu của một phần thuần tuý thèm khát của hồn người bằng cách dùng phương pháp này. Khát là một ham muốn. Có một chủ thể của ham muốn này. Khát là ham muốn thức uống không giới hạn rõ rệt – nghĩa là, chỉ uống nhưng không uống thức uống nào đặc biệt (437e). Bây giờ đi đến một ngoài đề lôgích, mục đích của nó là để loại trừ sự kết hợp những sức mạnh lý trí và thèm khát vật chất trong cùng một chủ thể. Kết quả của sự ngoài đề lôgích là rằng nếu sự thật về A thì tương đối với sự thật về B, khi đó nếu B thì có giới hạn rõ rệt theo một cách nào đó, một cách tương đồng A cũng phải có giới hạn rõ rệt (438a-e). Do đó, tác nhân của mong muốn ham muốn uống thì cũng không có giới hạn rõ rệt (439b).

Bởi vì tác nhân mong muốn uống thức uống không có giới hạn rõ rệt, thay vì là thức uống tốt, hay thức uống giải khát lành mạnh, vv ..., không thể biện luận rằng chủ thể này là một kết hợp của những sức mạnh và thèm khát hợp lý. Chủ thể tương ứng với khát thì được đặc trưng bởi sự thúc đẩy thuần túy động vật, không có sự kỳ thị phân biệt hợp lý. Mặt khác, nếu muốn uống thức uống về mặt lý thuyết không thể tách rời khỏi ham muốn thức uống tốt hay có lợi cho sức khoẻ, thì sẽ không có sự thèm khát thuần tuý, và tương ứng không có chủ thể thèm khát thuần túy.

Mong muốn muốn uống thì đại diện cho cả một lớp của những ham muốn thèm khát. bắt nguồn từ cùng một tác nhân. Những ham muốn thèm khát khác gồm đói và thèm khát tình dục. Chủ thể thèm khát thức ăn, thức uống và tình dục, những không có giới hạn rõ rệt này là phần thèm khát của hồn người (437c). Plato cảm thấy không cần phải thiết lập rằng những tác nhân tương tự chịu trách nhiệm cho những thèm khát khác nhau, mặc dù rõ ràng có liên quan. Không có lý do để đòi hỏi cho sự xác định những tác nhân của thèm khát, nhưng chỉ cho sự tách biệt của chúng.

Kế tiếp, Plato cố gắng để cô lập phần lý trí của hồn người. Ông nói rằng nếu có một mong muốn chống lại mong muốn thèm khát, thì có một tác nhân khác của mong muốn Sau đó ông đưa ra tuyên bố duy nghiệm rằng đôi khi có những người khát uống nhưng là người không muốn uống thức uống (439c). Do đó, có một tác nhân mong muốn để uống, và một tác nhân khác mong muốn để không uống.

Plato sau đó đưa ra một tuyên bố duy nghiệm khác – rằng những mong muốn chống đối thèm khát vật chất luôn luôn xuất phát từ suy nghĩ lý trí (439d). Ông kết luận rằng những mong muốn của tác nhân thứ hai đến từ suy nghĩ lý trí. Bây giờ ông tin rằng mình đã xác định một chủ thể thuần tuý thèm khát vật chất và một chủ thể thuần túy lý trí.

Plato đã không biện minh được khi khẳng định rằng lý trí luôn luôn chống đối thèm khát vật chất. Điều là khá dễ dàng để mường tượng của một tình cảnh trong đó tinh thần, chứ không phải lý trí, sẽ chống lại thèm khát vật chất. Plato không cần phải làm một tuyên bố mạnh như thế rằng chỉ lý trí chống đối thèm khát vật chất. Thay vào đó, ông có thể đưa ra một thí dụ về một ham muốn chống lại thèm khát vật chất, vốn trong thực tế, xảy ra vì lý trí – chẳng hạn như, không muốn uống rượu vì nó không lành mạnh. Sau đó ông có thể kết luận rằng có một tác nhân khác hơn là thèm khát vật chất và những mong muốn của tác nhân này đến từ suy nghĩ lý trí. Thêm tuyên bố khẳng định rằng tất cả những ham muốn chống lại những ham muốn thèm khát vật chất đều xuất phát từ lý trí, thì không cần thiết, sai lầm, và không thuận hợp với một bước sau đó trong lập luận này cho thấy tinh thần mới thực sự chống lại thèm khát vật chất.

Sẽ là khó khăn hơn nếu người ta có thể tưởng tượng được tình cảnh trong đó có hai thèm khát vật chất chống lại nhau. Plato sẽ trả lời, tuy nhiên, đó là lý trí cho chúng ta thấy rằng hai ham muốn thèm khát vật chất tự mâu thuẫn nhau nên loại trừ nhau, buộc chúng ta phải coi chúng như là những ham muốn đối nghịch nhau.

Sau khi đã lập luận về sự có mặt của hai phần khác nhau của hồn người – một thèm khát vật chất và một kia là lý trí – Plato cần chỉ để thiết lập rằng có một phần thứ ba, phần tinh thần của hồn người để hoàn thành sự tương đồng với thành phố. Một lần nữa, ông bắt đầu dự án này bằng cách thiết lập sự có mặt của một nhánh thứ ba của ham muốn, cũng như là một tác nhân của mong muốn đó. Tức giận và phẫn nộ là những ham muốn. Có một tác nhân của những ham muốn này. Tiếp theo, ông cố gắng chứng minh rằng tác nhân thứ ba này không thu giảm về hai tác nhân đã thiết lập.

Đầu tiên, ông cho thấy rằng tinh thần không là thèm khát vật chất. Một người có thể cảm thấy tức giận vì sự thèm khát vật chất của mình (440a). Tác nhân thứ ba thì không cùng là một như của phần thèm khát vật chất. Trái ngược với những tiềm năng ấn định cá biệt khác – tức là lý trí với sự thèm khát vật chất, tinh thần với sự thèm khát vật chất – sự ấn định cá biệt duy nhất có thể có để Plato chiêm ngưỡng giữa tinh thần và lý trí, đặt tinh thần vào vị trí của người tay sai, làm theo lý trí, thực hiện những mong muốn lý trí sai khiến. Plato, do đó, không sử dụng tiêu chuẩn thông thường của sự ấn định cá biệt để phân biệt tinh thần với lý trí. Thay vào đó, ông cố gắng cho thấy tinh thần đó không thể được xem là có cùng tác động như tay sai của lý trí vì nó đôi khi hành động trong sự vắng mặt của lý trí. Trẻ em và động vật có những ham muốn của tác nhân thứ ba nhưng không có phần lý trí của hồn người (441b). Do đó, tác nhân thứ ba không phải là phần lý trí của hồn người. Plato kết luận rằng có ba phần riêng biệt của hồn người: thèm khát vật chất, tinh thần và lý trí.

Trong cách nào ba phần riêng biệt này tách biệt, và trong cách nào chúng tạo nên một toàn thể thống nhất? Lập luận của Plato về một hồn người ba phần trong quyển IV, cũng như mô tả của ông về ba phần của hồn người trong quyển IX, chủ yếu phụ thuộc vào việc xác định hồn người và những phần của nó qua những mong muốn được gây ra. Những mong muốn là những nguyên lý tích cực, những động lực, chúng thúc đẩy cơ thể thụ động. Vì vậy, hồn người, ít nhất ở đây, có thể được xem như một thực thể siêu hình phục vụ như là chỗ ngồi của hoạt động của con người. Hồn người là sưu tập những nguyên lý hoạt động trong một con người.

Theo Plato, có ba sức mạnh “tâm lý” chính làm việc trong một cá nhân – sức mạnh có những thực thể vật chất và tiền bạc là đối tượng của nó; sức mạnh có những thực thể phi vật chất, nhưng thế gian, như danh dự và chiến thắng, là đối tượng của nó; và sức mạnh có những Thể dạng trong lĩnh vực vô hình là đối tượng của nó. Ba sức mạnh này được thể hiện trong những ham muốn tương ứng với sự thèm khát vật chất, tinh thần và lý trí. Cả ba sức mạnh này tạo nên một thực thể – hồn người – trong đó chúng bao gồm một nhóm những nguyên tắc hoạt động trong một cá nhân. Tuy nhiên, chúng là những nguyên tắc hoạt động khác biệt hoạt động theo những cách khác nhau và có những đối tượng rất khác nhau.

Bởi vì hồn người là chỗ ngồi của những sức mạnh con người, rõ ràng Plato nghĩ rằng là điều thích ứng để ấn định những phần cá biệt của nó bằng cách trưng bày những ham muốn đối nghịch bên trong nó. Cách hay nhất để chứng minh rằng có những sức mạnh tích cực hoạt động độc lập trong hồn người là để trưng bày những sức mạnh này đang cố gắng tự đối nghịch lẫn nhau. Rõ ràng cùng một sức mạnh hoạt động không thể chịu trách nhiệm cho sự cố gắng hoạt động của hai sức mạnh đối lập. Vén màn che lên cho thấy những ham muốn đối nghịch, cũng là vén màn che lên cho thấy những sức mạnh tác động riêng rẽ bên trong chỗ ngồi chung của hoạt động.

Plato sử dụng tiêu chuẩn ấn định cá biệt này để chứng minh rằng có ba sức mạnh hoạt động trong hồn người. Trong khi ông thành công trong việc tách bạch ba loại mong muốn, ông không làm gì để chứng minh rằng không có nhiều hơn sức mạnh hoạt động hoạt động. Có lẽ thay vì một hồn người ba-phần, có thể một hồn người thực sự là bốn-phần hay năm-phần. Bằng chứng nào Plato có để giới hạn nó ở ba-phần?

Phân tích ba phần của Plato về hồn người đưa ra ít nhất ba tuyên bố khá có ý nghĩa thực chất. Thứ nhất, có những tác nhân tâm lý của ham muốn có những sức mạnh tác động trên cơ thể. Thứ hai, vô số những ham muốn của một cá thể có thể được thu giảm thành ba loại chính, tương ứng với ba nhân tố tâm lý của mong muốn loại như thế, chúng điều khiển hành vi của con người. Thứ ba, mô tả cơ bản của tâm lý con người – “cấu trúc của hồn người” – có liên quan đến đạo đức và là cần thiết cho một sự hiểu biết về công chính.

Trong khi những tuyên bố thứ nhất và thứ ba ít còn được lưu hành trong những nhà tư tưởng thời nay, sự phân chia tâm lý hay hồn cá nhân thành ba phần vẫn là một giả thuyết linh động trong việc giải thích những mâu thuẫn tâm lý nội tại trong thời hiện nay. Nó tồn tại, trong những hình thức đã được sửa đổi, trong những hiện thân thời nay như sự phân chia the Ego, the Id, and the Super-ego của Freud. [1]



Quyển IV
SOCRATES kể tiếp tục:

[419a]
Adeimantus chen vào ngắt lời:

ADEIMANTUS: Ông sẽ bào chữa cho mình thế nào, Socrates, nếu một người nào đó phản đối rằng ông sẽ không làm những người này được rất sung sướng, và thêm nữa, rằng nó là lỗi của riêng họ khiến họ sẽ không thế? Ý tôi là, thành phố thực sự thuộc về họ, nhưng họ lại không nhận được của cải gì từ thành phố. Những người khác sở hữu đất đai, xây những nhà lớn, đẹp, mua những bàn ghế gường tủ đồ dùng cùng với chúng, làm những lễ hiến sinh cho riêng họ với những vị gót, giải trí khách khứa, và cũng có thể, dĩ nhiên, có được những gì ông đã vừa mới nói, là: vàng, bạc và tất cả những sự vật việc mà những ai là những người sẽ được ban cho sung sướng đều nghĩ là cần phải có. Thay vì đó, người này có thể nói, họ xem dường như chỉ đơn giản là để trả tiền công cho những người phụ tá được thiết lập trong thành phố như một trại quân, và không gì khác.
[420a]
SOCRATES: Có, và còn có hơn thế nữa, họ làm điều đó chỉ để bảo trì và không có tiền lương cộng thêm với sự bảo trì của họ, như những người khác làm. Thế nên, họ thậm chí sẽ không có thể có một chuyến đi chơi cá nhân ra ngoài thành phố nếu họ muốn, hay tặng những quà cho những bạn gái của họ, hay tiêu tiền theo bất cứ những cách nào khác họ có thể muốn, như người ta làm, những người được xem là sung sướng. Bạn đã bỏ quên những điều này và một loạt những sự kiện tương tự khác từ danh sách những điều lên án của bạn.
ADEIMANTUS: Vâng, cũng hãy cộng chúng thêm vào danh sách những điều lên án.
SOCRATES: Chúng ta sẽ bào chữa mình thế nào? Đó có phải là những gì bạn đang hỏi?
ADEIMANTUS: Vâng.

SOCRATES: Tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ tìm ra được những gì để nói nếu chúng ta đi theo cùng một lối như trước đây. Bạn thấy đấy, trả lời của chúng ta sẽ là thế này: sẽ không có gì là điều ngạc nhiên tất cả nếu những người này đã là sung sướng nhất đúng như họ đang là. Tuy nhiên, trong việc xây dựng thành phố của chúng ta, chúng ta không tìm cách để làm một nhóm bất kỳ nào trong đó thì sung sướng nổi bật, nhưng để làm cho toàn bộ thành phố là như thế, càng nhiều càng tốt. Vì chúng ta đã nghĩ rằng chúng ta sẽ là có nhiều cơ may nhất để tìm thấy công chính trong một thành phố loại giống như vậy, và bất công, ngược lại, trong một thành phố được quản lý tồi tệ nhất. Và chúng ta đã nghĩ rằng bằng cách quan sát cả hai thành phố, chúng ta sẽ có thể quyết định câu hỏi chúng ta đã đang tìm hiểu từ quá lâu. Tại thời điểm, khi đó, chúng ta nhận lấy chính chúng ta để hình thành một thành phố hạnh phúc - không tách ra một vài người sung sướng và đặt họ vào trong đó, nhưng làm cho thành phố như là một hạnh phúc toàn bộ. (Chúng ta sẽ sớm xem xét thành phố đối nghịch. [2])

Giả sử, sau đó, rằng chúng ta đã vẽ một pho tượng [3] và một người nào đó đã đến với chúng ta, và bắt đầu chỉ trích chúng ta, nói rằng chúng ta đã không áp dụng những màu đẹp nhất cho những phần đẹp nhất của pho tượng, bởi vì mắt, là phần đẹp nhất, đã được sơn màu đen thay vì màu tím. Chúng ta sẽ nghĩ là điều hợp lý để đem cho sự bào chữa như sau: “đồng bạn tuyệt vời của tôi ơi, bạn phải không mong đợi chúng ta vẽ đôi mắt đẹp đến nỗi chúng không còn trông giống những đôi mắt gì hết tất cả, cũng không thế với những phần khác. Ngược lại, bạn phải nhìn xem, bằng cách đối xử với mỗi phần một cách thích hợp, chúng ta làm toàn bộ sự vật đẹp đẽ. Tương tự như vậy, trong trường hợp này, bạn phải không ép buộc chúng tôi để cung cấp cho người giám hộ của chúng ta loại hạnh phúc mà có thể làm họ thành một gì đó khác hơn là những người giám hộ. 



Lê Dọn Bàn tạm dịch - bản nháp thứ nhất




[1] Xem Freud – Cái Ta và cái Đó, bản dịch của tôi trên blog này.
Những das Ich, das Es, và das Über-Ich của Freud không hoàn toàn tương đồng với lý trí (λογιστικὸν) tinh thần (θυμοειδές), và thèm khát vật chất (ἐπιθυμητικόν).của Plato. Chỉ có sự phân chia làm ba phần trong tâm lý (Freud) và hồn người (Plato) là tương đồng, và phần nào hồn người và tâm lý của con người là những khái niệm tương đồng.
[2] thảo luận về điều này bắt đầu ở 445c, nhưng bị gián đoạn, và rồi không được tiếp tục cho đến quyển 8.
[3] Những tượng Hellas thời cổ được vẽ và mạ vàng hay dát bạc