Wednesday, August 30, 2017

Bertrand Russell - Có phải Tôn giáo đã làm được những Đóng góp Hữu ích cho Văn minh không?

Có phải Tôn giáo đã làm được những Đóng góp Hữu ích cho Văn minh không?
Bertrand Russell
Has Religion Made Useful Contributions to Civilization?








Mục lục:
Đạo Kitô và Tình Dục
Những điều Phản đối Tôn giáo
Hồn người và Bất tử
Những nguồn gốc của sự không khoan dung
Học thuyết về Ý chí Tự do
Ý tưởng về sự ngay thẳng

Có phải Tôn giáo đã làm được những Đóng góp Hữu ích cho Văn minh không?[1]
(1930)

Quan điểm riêng của tôi về tôn giáo là của Lucretius.[2] Tôi xem nó như một chứng bệnh gây ra bởi sự sợ hãi, và như một nguồn của sự khốn khổ khôn tả của loài người. Tuy nhiên tôi không thể phủ nhận rằng nó đã làm được một vài đóng góp cho văn minh. Nó đã giúp, trong những ngày đầu của lịch sử, vào việc chữa lịch, và nó là nguyên nhân khiến những nhà tu Egypt đã ghi chép những thiên thực theo năm tháng với cẩn thận đến mức sau cùng họ đã trở nên có thể đoán trước được chúng. Hai dịch vụ đóng góp này tôi sẵn sàng để thừa nhận, nhưng tôi không biết có những đóng góp nào khác.

Từ ‘tôn giáo’ ngày nay được dùng với một nghĩa rất lỏng lẻo. Một số người, dưới ảnh hưởng của đạo Phản Thệ cực đoan, dùng từ này để biểu thị bất kỳ những xác tín cá nhân nghiêm trọng nào về phần đạo đức hay bản chất của vũ trụ. Việc dùng này của từ thì hoàn toàn không có tính lịch sử. Tôn giáo chủ yếu là một hiện tượng xã hội. Những hội Nhà thờ có thể nợ nguồn gốc của chúng với những người thầy sáng lập vốn có những xác tín cá nhân mạnh mẽ, nhưng những người thày này đã hiếm khi có nhiều ảnh hưởng đến những hội nhà thờ mà họ đã sáng lập, trong khi những hội nhà thờ đã có ảnh hưởng lớn lao vào những cộng đồng trong đó chúng đã phát triển. Để lấy trường hợp vốn liên quan đáng chú ý nhất với những người sống trong văn minh phương Tây: sự giảng dạy của Christ, như nó đã xuất hiện trong những sách ghi chép cuộc đời của Christ [3], đã có liên hệ ít ỏi hết sức khác thường với đạo đức của người Kitô. Điều quan trọng nhất về đạo Kitô, theo quan điểm xã hội và lịch sử, không phải là Christ, nhưng là Hội Nhà thờ, và nếu chúng ta có đánh giá đạo Kitô như một sức mạnh xã hội thì chúng ta phải đừng đi đến những sách ghi chép về đời Jesus để làm tài liệu cho chúng ta. Jesus đã dạy rằng bạn nên trao của cải của mình cho người nghèo, rằng bạn không nên đánh trả, rằng bạn không nên đi nhà thờ [4], và bạn không nên trừng phạt sự ngoại tình. Cả người Catô lẫn người Phản thệ đều không cho thấy có mong muốn mạnh mẽ nào để tuân theo lời dạy của ông trong bất kỳ một nào của những phương diện này. Một số người trong dòng tu Franciscan, đúng vậy, đã cố gắng để dạy giáo lý về sự nghèo khó của những học trò đầu tiên của Jesus, nhưng vua Chiên đã lên án họ, và học thuyết của họ đã bị tuyên bố là ‘sai lạc với giáo lý chính thức’ [5] (của hội nhà thờ). Hoặc, lại nữa, hãy xem xét một câu văn như ‘Chớ phán xét, để đừng bị phán xét’ và tự hỏi bạn một câu văn loại như thế đã có được ảnh hưởng nào trên những Toà án Pháp hình của hội nhà thờ Kitô [6] và tổ chức Ku Klux Klan.

Những gì đúng với đạo Kitô thì cũng có đúng với đạo Phật. Đức Phật thật hoà nhã và đã giác ngộ; Trên giường bệnh của mình, sắp chết, ông đã cười những học trò vì họ giả định rằng ông thì không chết. Tuy nhiên, chế độ thày tu của đạo Phật – như nó hiện hữu, lấy thí dụ, ở Tibet – đã là ngu dân, chuyên chế và nghiệt ngã ở mức độ cao nhất.

Không có gì ngẫu nhiên về sự khác biệt này giữa một hội nhà thờ và người sáng lập của nó. Ngay lập tức, khi ‘chân lý tuyệt đối’ được cho là đã chứa đựng trong những lời nói của một người nào đó, có một tập đoàn những người chuyên môn để giải thích những lời nói của người này, và những người chuyên nghiệp này không thể sai lầm khi đòi được có quyền lực, vì họ nắm giữ chìa khóa mở chân lý. Giống như bất kỳ giai cấp đặc quyền nào khác, họ dùng sức mạnh của họ cho những ưu thế của riêng họ. Tuy nhiên về một phương diện, còn tệ hơn bất cứ tầng lớp đặc quyền nào khác, vì đó là công việc của họ để diễn giải chi tiết một sự thật không thay đổi, đã được ‘vén lên cho thấy’ trong sự hoàn hảo tột bực, một lần cho mãi mãi, như thế khiến họ trở nên những đối thủ tất yếu của tất cả mọi tiến bộ trí tuệ và đạo đức. Hội nhà thờ chống đối Galileo và Darwin; Trong thời chúng ta, nó chống Freud. Trong những ngày có sức mạnh lớn lao nhất, nó đã đi xa hơn trong chống đối của nó với đời sống tri thức. Vua chiên Gregory the Great đã viết cho một thày chăn chiên trông coi hàng tỉnh nào đó một lá thư, bắt đầu: "Một báo cáo đã đến với ta mà ta không thể nhắc đến mà không nóng mặt, rằng ngươi đã giải thích ngữ pháp cho một số người bạn.” Nhà chăn chiên cao cấp này bị thẩm quyền của vua chiên buộc phải chấm dứt tình trạng ‘lao động’ xấu xa này, và Latinh đã không được hồi phục cho đến tận thời Phục hưng. Rằng tôn giáo thì có hại không chỉ tri thức mà cũng cả đạo đức nữa. Ý tôi về điều này là nó dạy những quy tắc đạo đức vốn khó đưa đến thành quả cho hạnh phúc của con người. Một vài năm trước đây, tại Germany, khi một cuộc trưng cầu dân ý đang tiến hành về việc liệu những gia đình hoàng tộc đã bị truất phế có sẽ vẫn được phép giữ những tài sản họ đã coi là của riêng hay không, những hội nhà thờ ở Germany đã chính thức tuyên bố rằng nếu tước đi quyền này của họ sẽ là điều trái với sự giảng dạy của đạo Kitô. Những hội nhà thờ, như mọi người đều biết, đã chống lại việc bãi bỏ chế độ nô lệ cho mãi đến tận khi họ vẫn dám làm thế, và với một vài trường hợp ngoại lệ vẫn được quảng cáo là tốt đẹp, trong thời nay, họ phản đối mọi phong trào nào hướng tới sự bình đẳng kinh tế. Vua chiên đã chính thức lên án chủ nghĩa Xã hội.

Đạo Kitô và Tình Dục

Tuy nhiên, đặc tính tồi tệ nhất của đạo Kitô là thái độ của nó đối với tình dục – một thái độ quá bệnh hoạn và quá phản tự nhiên khiến chỉ có thể hiểu được khi đặt nó trong liên hệ với sự đau ốm của thế giới văn minh vào thời điểm khi Đế Quốc Rome đã đang mục rữa. Đôi khi chúng ta nghe nói đến tác động khiến tư tưởng Kitô đã cải thiện địa vị xã hội của phụ nữ. Đây là một trong những sự xuyên tạc thô bỉ trắng trợn nhất của lịch sử mà nó có thể làm được. Phụ nữ không thể được hưởng một vị trí có thể khoan thứ trong xã hội, khi trong đó điều được xem là cực kỳ quan trọng rằng họ phải không nên vi phạm một hệ thống quy luật đạo đức rất cứng rắn. Những nhà tu đã luôn luôn xem người Nữ chủ yếu như giống cái cám dỗ; Họ đã nghĩ đến nàng chính yếu như người khơi dậy những thèm khát dục tình tội lỗi. Sự giảng dạy của nhà thờ đã và vẫn là, trinh tiết là tốt nhất, nhưng hôn nhân thì được phép cho những ai là người thấy điều này không thể nào giữ được. “Tốt hơn để kết hôn thay vì để bị đốt”, như thánh chiên Paul đã nói.[7] Bằng cách làm hôn nhân không thể hủy bỏ được, và bằng cách dập tắt mọi hiểu biết về ars amandi [8], hội Nhà thờ đã làm những gì nó có thể làm để bảo đảm rằng hình thức quan hệ tình dục duy nhất mà nó cho phép nên gồm rất ít vui thú và thật nhiều đau đớn. Sự chống đối việc ngừa thai, trong thực tế, có cùng động cơ: nếu một phụ nữ có một đứa con hàng năm cho đến khi nàng mòn mỏi chết đi, thì không được giả định rằng nàng sẽ nhận được nhiều vui thú từ đời sống lứa đôi của mình; do đó phải ngăn chặn sự ngừa thai.

Khái niệm về Tội lỗi vốn nó được buộc chặt với đạo đức Kitô là một khái niệm gây một số lượng tai hại đặc biệt khác thường, vì nó có thể đem cho mọi người một lối thoát cho chủ nghĩa bạo dâm của họ vốn họ tin là hợp pháp, và thậm chí là cao thượng. Chẳng hạn, hãy lấy ví dụ, về vấn đề phòng bệnh syphilis [9]. Được biết, bằng những biện pháp phòng ngừa trước, nguy cơ mắc bệnh này có thể làm trở thành không đáng kể. Tuy nhiên, những người Kitô phản đối việc phổ biến kiến ​​thức về sự kiện này, bởi vì họ chủ trương rằng những “kẻ tội lỗi” bị trừng phạt là điều tốt! Họ giữ ‘điều tốt’ này đến mức họ thậm chí còn sẵn lòng chấp nhận trừng phạt với cả những người vợ và con của “kẻ có tội”. Hiện có trên thế giới vào thời điểm này hàng nghìn trẻ em bị bệnh syphilis bẩm sinh, những người tất đã không bao giờ được sinh ra, nhưng chỉ vì ước muốn của những người Kitô để thấy những kẻ tội lỗi bị trừng phạt. [10] Tôi không thể hiểu được những giáo lý dẫn tới sự độc ác tàn bạo này lại có thể được xem là có bất kỳ gác động tốt nào đến đạo đức.

Không chỉ liên quan đến hành vi tình dục, nhưng cũng còn liên quan đến kiến ​​thức về những đề tài tình dục, khiến thái độ của những người Kitô thì nguy hiểm cho phúc lợi con người. Mọi người, ai đã gắng thử nghiên cứu vấn đề này trong một tinh thần vô tư đều biết rằng sự ngu dốt giả tạo về những đề tài tình dục mà những người Kitô chính thống cố gắng để thực hiện với giới trẻ là vô cùng nguy hiểm cho sức khoẻ tinh thần và thể chất, và gây ra trong những người nhận lấy kiến ​​thức của họ bằng lối nói chuyện “không đúng đắn”, như hầu hết trẻ em làm, một thái độ rằng tình dục tự nó thì không đứng đắn và đáng nhạo báng khinh miệt. Tôi không nghĩ rằng có thể có bất kỳ biện hộ nào cho quan điểm cho rằng kiến ​​thức thì lại bao giờ từng không đáng mong muốn có. Tôi không nên đặt những rào cản trên đường tiếp thu kiến ​​thức của bất cứ ai ở mọi lứa tuổi. Nhưng trong trường hợp đặc biệt của kiến ​​thức về Tình Dục có những luận chứng nghiêng về tán thành nó vững mạnh hơn nhiều so với trong trường hợp của hầu hết kiến ​​thức khác. Một người ít có khả năng hành động khôn ngoan khi người ấy thiếu hiểu biết, hơn là khi người ấy được dẫn dạy, và phi lý đáng khinh miệt để cho những người trẻ một cảm giác về “tội lỗi”, vì họ có một sự tò mò tự nhiên về một vấn đề quan trọng.

Mọi bé trai đều ham thích những đoàn tàu hỏa. Giả sử chúng ta nói với cậu bé rằng một ham thích với những tàu hoả là xấu xa đến tội lỗi; Giả sử chúng ta băng kín mắt cậu bé bất cứ khi nào cậu bé đang ở trên một tàu hoả, hay trong một nhà ga; Giả sử chúng ta không bao giờ cho phép từ “tàu hỏa” được nhắc đến nếu có sự hiện diện của cậu bé, và giữ chặt một bí ẩn không thể xuyên thủng về phương tiện mà cậu bé được di chuyển nơi này sang nơi khác. Kết quả không phải là cậu bé sẽ ngưng sự ham thích chú tâm đến những đoàn tàu hỏa; Trái lại, cậu bé sẽ trở nên ham thích chú tâm hơn bao giờ hết, nhưng sẽ có cảm giác tội lỗi, bởi vì sự ham thích này đã được trình bày với cậu bé là không phải, là trái phép. Tất cả những cậu bé có trí thông minh năng động có thể do cách thức này gây cho vướng chứng suy nhược thần kinh, ở một mức độ ít hay nhiều nào đó. Đây chính là những gì đã được thực hiện trong vấn đề tình dục; Nhưng, vì tình dục thì thú vị hơn tàu hỏa, nên kết quả tồi tệ hơn. Hầu như mọi người trưởng thành trong cộng đồng những người Kitô đều ít nhiều bị bệnh thấm thỏm lo lắng như một kết quả của tabu [11] về kiến ​​thức tình dục khi họ còn trẻ. Và cảm giác về tội lỗi vốn đã được cấy ghép nhân tạo như thế là một trong những nguyên nhân của sự tàn ác, nhút nhát và ngu ngốc trong cuộc sống sau này. Không có nền tảng lý trí nào, thuộc bất kỳ loại nào, hay thứ nào, để giam giữ một đứa trẻ trong sự không biết gì về bất cứ gì mà đứa trẻ có thể muốn biết, dù là về tình dục hay về bất kỳ vấn đề nào khác. Và chúng ta sẽ không bao giờ có được một dân chúng có đầu óc lành mạnh, cho đến khi sự kiện này được nhìn nhận trong giáo dục nhi đồng, nhưng điều đó thì không thể, cho đến chừng nào những hội Nhà thờ có khả năng để kiểm soát chính trị giáo dục.

Để những phản đối tương đối chi tiết này sang một bên, rõ ràng là những học thuyết căn bản của đạo Kitô đòi hỏi rất nhiều lệch lạc bóp méo đạo đức trước khi chúng có thể được chấp nhận. Chúng ta được cho biết, thế giới đã được tạo ra bởi một Gót là đấng vừa toàn thiện lẫn toàn năng. Trước khi Ông dựng nên thế giới, Ông đã nhìn thấy trước tất cả mọi đau đớn và khốn khổ mà nó sẽ chứa đựng; Do đó, ông chịu trách nhiệm về tất cả. Thật là không đi đến đâu để biện luận rằng đau đớn trên thế giới là do ‘tội lỗi’. Trước tiên, điều này thì không đúng sự thật; không phải là do tội lỗi khiến những con sông dâng nước lụt tràn bờ, hay những núi lửa bùng vỡ cháy nổ. Nhưng ngay cả khi đó là sự thật, nó sẽ không làm nên khác biệt nào. Nếu tôi sắp sửa để sinh một đứa con, biết rằng đứa trẻ sẽ là một kẻ điên loạn giết người, tôi tất sẽ phải chịu trách nhiệm về những tội ác của nó. Nếu Gót đã biết trước những tội lỗi mà con người sẽ phạm, Ông thì rõ ràng chịu trách nhiệm với tất cả những hậu quả của những tội lỗi đó khi Ông quyết định tạo ra con người. Biện luận thông thường của đạo Kitô là sự đau khổ trên thế giới là một sự thanh tẩy tội lỗi, và do đó là một điều tốt lành. Lập luận này là, tất nhiên, chỉ là một sự hợp lý hóa của chủ nghĩa bạo dâm độc ác [12]; Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào thì đó là một luận chứng rất nghèo nàn. Tôi sẽ mời bất kỳ người Kitô nào đi cùng tôi đến khu trẻ em của một bệnh viện để xem ở đó có những đau khổ đang phải chịu đựng, và sau đó tiếp tục khẳng định rằng những đứa trẻ đó quá truỵ lạc, bị ruồng bỏ, nên xứng đáng với những gì chúng đang chịu đựng. Ngõ hầu để đem chính mình đi đến nói ra điều này, một người phải hủy diệt trong chính mình tất cả tình cảm của khoan dung và thương xót. Nói vắn tắt, người ấy phải làm chính mình trở nên cũng độc ác như Gót mà người ấy tin tưởng. Không người nào – là người tin rằng trong thế giới đau khổ này tất cả (những gì xảy ra như thế) là cho sự tốt lành nhất – có thể giữ những giá trị đạo đức của người ấy không bị tật nguyền, vì người ấy luôn phải tìm những lý do bào chữa cho đau đớn và khốn khổ.

Những điều Phản đối Tôn giáo

Những điều phản đối tôn giáo thuộc về hai loại – trí tuệ và đạo đức. Sự phản đối về trí tuệ là không có lý do nào để giả định bất kỳ một tôn giáo nào là đúng; sự phản đối về đạo đức là những giới luật tôn giáo ra đời từ một thời khi con người đã độc ác hơn họ là hiện nay, và do đó có khuynh hướng làm tồn tại mãi mãi những điều phi nhân vốn lương tâm đạo đức của thời đại tất sẽ vượt qua nếu không vì thế.

Để nói về sự phản đối trí thức ​​trước tiên: có một khuynh hướng nhất định trong thời đại thực tế của chúng ta để cho rằng nó không có gì là thành vấn đề quan trọng cho dù giảng dạy tôn giáo thì đúng hay không, vì câu hỏi quan trọng là liệu nó thì có ích hay không. Tuy nhiên, một câu hỏi không thể được quyết định nếu không có câu hỏi khác. Nếu chúng ta tin vào đạo Kitô, những khái niệm của chúng ta về những gì là tốt lành sẽ khác với những gì chúng sẽ là, nếu chúng ta không tin vào nó. Do đó, đối với những người Kitô, những ảnh hưởng của đạo Kitô có thể có vẻ tốt, trong khi đối với những người không tin tưởng, chúng có vẻ xấu. Hơn nữa, thái độ mà một người phải nên tin một mệnh đề như vậy và như vậy, độc lập với câu hỏi liệu có chứng cớ nào để ủng hộ nó không, là một thái độ vốn gây ra sự thù địch với bằng chứng và khiến chúng ta phải đóng chặt não thức của chúng ta với chính sự kiện vốn không thuận hợp với thành kiến của chúng ta.

Một loại nhất định nào đó của óc vô tư khoa học là một phẩm tính rất quan trọng, và nó là một phẩm tính vốn khó có thể có trong một người là người tưởng tượng rằng có những sự vật việc vốn nhiệm vụ của người ấy để tin tưởng chúng. Do đó, chúng ta không thể quyết định liệu tôn giáo có làm được gì tốt hay không mà không cần điều tra vấn đề liệu tôn giáo thì đúng hay không. Đối với những người Kitô, Muslim và Jew câu hỏi cơ bản nhất liên quan đến sự thật của tôn giáo là sự hiện hữu của Gót. Trong những thời tôn giáo đã vẫn thắng thế, từ “Gót” đã có một nghĩa hoàn toàn rõ ràng; Nhưng như một hậu quả của những tấn công của những nhà Duy lý, từ này đã trở nên nhạt hơn và càng nhạt hơn, đến khi khó có thể nhìn thấy ý của người ta khi họ khẳng định rằng họ tin vào Gót. Để bàn luận, chúng ta hãy lấy định nghĩa của Matthew Arnold: “Một quyền năng không phải bản thân chúng ta vốn hướng đến sự ngay thẳng đạo đức.” Có lẽ chúng ta có thể làm điều này trở nên ngay cả còn mơ hồ hơn, và tự hỏi liệu chúng ta có bất kỳ bằng chứng nào về mục đích trong vũ trụ này, ngoài những mục đích của những sinh vật trên bề mặt hành tinh này.

Luận chứng thông thường của những người có tôn giáo về đề tài này thì đại thể như sau: “Tôi và những bạn bè của tôi là những cá nhân có đức hạnh và thông minh tuyệt vời. Khó có thể hình thành trong óc được rằng nhiều thông minh và đức hạnh đến như thế lại có thể ngẫu nhiên xảy ra. Thế nên, phải có một ai đó, ít nhất cũng thông minh và đức hạnh như chúng tôi, là người đặt guồng máy vũ trụ vào chuyển động với một dự kiến tạo ra chúng tôi”. Tôi xin lỗi khi nói rằng tôi không thấy luận chứng này tuyệt vời đáng phục như nó được nhìn thấy thế bởi những ai là người dùng nó. Vũ trụ thì lớn rộng; dẫu vậy, nếu chúng ta tin Eddington [13], có lẽ không nơi nào khác trong vũ trụ có những sinh vật thông minh như con người. Nếu bạn xem xét tổng lượng vật chất trên thế giới và so sánh nó với khối lượng hình thành những cơ thể của những sinh vật thông minh, bạn sẽ thấy rằng con số sau có tỷ lệ gần như nhỏ vô cùng với con số trước. Do đó, ngay cả khi xác xuất cực kỳ lớn lao đến hầu như không thể nào xảy ra rằng những luật của ngẫu nhiên sẽ tạo ra một cơ cấu sinh vật có khả năng thông minh từ một lựa chọn ngẫu nhiên của những atom, tuy nhiên có thể xảy ra rằng sẽ có trong vũ trụ một số rất nhỏ của những sinh vật như thế mà chúng ta có tìm thấy trong thực tế. Khi đó, lại nữa, được xem như đỉnh cao của một tiến trình lớn rộng bao la dường vậy, chúng ta không thực sự có vẻ để đủ gọi là tuyệt vời. Dĩ nhiên, tôi nhận thức được rằng nhiều những nhà gót-học thì tuyệt vời hơn tôi rất nhiều, và rằng tôi không thể trọn vẹn cảm kích những công lao cho đến giờ đã nâng cao (thông minh) của riêng tôi. Dẫu sao đi nữa, ngay cả sau khi tính đến những ban cho dưới cái đầu này, tôi không thể không nghĩ rằng đấng Toàn năng hoạt động tất cả thời gian trong vĩnh cửu có thể đã tạo ra một gì đó tốt đẹp hơn. Và sau đó chúng ta phải ngẫm nghĩ rằng ngay cả kết quả này xảy ra chỉ một lần hết sức ngắn ngủi.

Trái đất sẽ không giữ mãi tình trạng có thể sinh sống; Loài người sẽ chết đi, và nếu tiến trình vũ trụ là để minh chứng chính nó từ đây về sau, nó sẽ phải làm như vậy ở nơi nào khác thay vì trên mặt của hành tinh của chúng ta. Và ngay cả nếu điều này có xảy ra, sớm hay muộn, nó phải dừng lại. Luật thứ hai về nhiệt động lực học khiến chắc chắn là không thể không nghi ngờ rằng vũ trụ thì đang cạn kiệt, và rằng đến tận cùng không gì dù đáng quan tâm chỉ mảy may sẽ có thể có được ở bất cứ đâu [14]. Tất nhiên, chúng ta có thể nói rằng khi thời gian đó đến, Gót sẽ lại vặn dây cót cho guồng máy; nhưng nếu chúng ta có nói điều này, chúng ta chỉ có thể dựa sự khẳng định của chúng ta trên niềm tin tôn giáo, chứ không trên một mảnh nhỏ nào của bằng chứng khoa học. Cho đến nay, theo như những bằng chứng khoa học, vũ trụ đã bò qua từng giai đoạn chậm chạp đi đến một kết quả đáng thương trên trái đất này, và đang tiếp tục bò qua những giai đoạn lại còn đáng thương hơn nữa đến một tình trạng của cái chết phổ quát. Nếu điều này được nhận như bằng chứng của mục đích, tôi chỉ có thể nói rằng mục đích là một điều không hấp dẫn với tôi. Do đó, tôi không thấy lý do để tin vào một bất kỳ loại Gót nào, cho dù mơ hồ đến đâu và thu giảm nhạt mỏng đến đâu. Tôi để qua một bên những luận chứng siêu hình cũ, vì chính những nhà bào chữa tôn giáo đã ném bỏ chúng.

Hồn người và sự bất tử

Sự nhấn mạnh trong đạo Kitô về hồn người cá thể đã có một ảnh hưởng sâu xa trên luân lý của những cộng đồng người Kitô. Đó là một học thuyết cơ bản tương tự như của những triết gia phái Stoics, nổi lên như của họ đã nổi lên trong những cộng đồng vốn thôi không có thể còn ấp ủ những hy vọng chính trị. 


Lê Dọn Bàn tạm dịch - bản nháp thứ nhất
(Aug/2017)
(Còn tiếp...)




[1] Bài luận văn ngắn này đã phổ biến năm 1930; sau cho in trong tuyển tập Tại sao tôi không là người Kitô, xuất bản năm 1936. Trong đó, bản London: Unwin Paperbacks (1982) gồm những bài phê bình tôn giáo (Abraham), nổi tiếng như: Tại sao tôi không là người Kitô, Những gì tôi Tin tưởng, Tôn giáo có thể chữa được các khó khăn của chúng ta không?

[2] Titus Lucretius Carus, Nhà thơ Rome, thế kỷ I TCN; học trò của Epicurus, nay còn lại tác phẩm The Nature of the Universe (Bản chất của Vũ trụ / De Rerum Natura). Epicurus và những người theo ông, như Lucretius ở đây, đã tuyên chiến với tôn giáo, vốn gây ra khiếp sợ và ngu tối cho con người. De Rerum Natura của Lucretius là một bài thơ triết học vĩ đại, chứa đựng những gì có nội dung như một tuyên ngôn của những người duy vật và không-tin-gót (vô thần) trong lịch sử triết học phương Tây:

“…Khi nhìn đầy đủ về đời sống của con người trên quả đất, nằm thối rữa và ghê tởm đáng ghét.
Bị nghiền nát dưới gánh nặng bất động của những gông cùm nặng nề ác độc của tôn giáo

Ai từ trời cao đã hé lộ vầng trán khô héo
Hạ thấp xuống trên đầu những con người với đe dọa đáng sợ

Ngẩng mắt của kẻ chịu phận sống chết lên thách thức, đã là một người Greek, người đầu tiên, táo bạo, thách thức trời cao;
Chống lại kẻ địch không ngưng nghỉ của con người, đã là Người đầu tiên lâm trận.
Người ấy không thể bị nghiến nát bởi những chuyện kể về các vị gót, cũng như sấm sét thịnh nộ của trời cao,
…”
[3] Gospels: vẫn dịch là “Tin Mừng” (cũng gọi là “Tân Ước) – nhưng đơn giản chỉ là bốn quyển sách ghi chép trùng hợp, lẫn lộn, và mâu thuẫn về đời sống ngắn ngủi của nhân vật huyền thoại được gọi là ‘Jesus người thành Narazeth’, người này tự xưng là ‘đấng cứu thế’ (Christus) của người Jews theo như truyền thuyết Hebrew”.
[4] Đúng hơn là nhà thờ của đạo Juda (synagogue), Jesus là người theo đạo Juda
[5] Heretic: dị giáo
[6] Inquisition
[7] I Corinthians 7:9.
[8] Ars amandi (Latin): The Art of Love = Nghệ thuật Yêu Đương = tình yêu nhục cảm, cũng là nhan đề của quyển sách nổi tiếng – Ars Amatoria – của Ovidius Naso (43 TCN) về đề tài này.
[9] vẫn dịch là bệnh ‘giang mai’, tôi nghĩ nên dùng tên gọi như trên, nay cũng khá quen thuộc; thêm nữa nó cho chúng ta từ nguyên: từ Syphilis, sive Morbus Gallicus, tên một bài thơ Latin (1530), trong đó nhân vật Syphilus, được cho là người đầu tiên được viết đã mắc chứng bệnh này.
[10] Năm 2007, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ước lượng có khoảng 2 triệu trẻ con hàng năm bị nhiễm syphilis từ người mẹ. Chưa kể, thách thức vẫn có, đến từ cùng thái độ, của Vatican với giới y tế quốc tế, điển hình qua sự chống đối của hội Nhà thờ, về việc sử dụng condom để ngăn chặn sự lan truyền HIV, một hiện tượng mới xảy ra ở cuối thế kỷ này trong những nước chậm tiến Africa.
[11] taboo: ở đây là những cấm kị không được nói ra.
[12] sadism
[13] Sir Arthur Eddington (1882-1944) nhà vật lý thiên văn học lỗi lạc của United Kingdom, đầu thế kỷ XX.
[14] The Second Law of Thermodynamics.