Saturday, August 8, 2015

Harari – Sapiens: một Lịch sử Ngắn gọn của loài Người (12)

Sapiens: A Brief History of Humankind
Yuval Noah Harari

Sapiens: một Lịch sử Ngắn gọn của loài Người







15
Hôn nhân giữa Khoa học và Đế quốc

Mặt trời và quả đất cách nhau bao xa ? Đó là một câu hỏi lôi cuốn nhiều nhà thiên văn cận đại, đặc biệt sau khi Copernicus đã biện luận rằng mặt trời, chứ không phải quả đất, nằm ở trung tâm của vũ trụ. Một số nhà thiên văn và toán học đã cố gắng để tính khoảng cách này, nhưng những phương pháp của họ đã cho những kết quả rất khác biệt. Một phương cách tin cậy rằng có thể đo đúng được, sau cùng đã đưa ra vào giữa thế kỷ XVIII. Mỗi năm, Venus đi ngang qua không gian đối diện trực tiếp giữa mặt trời và quả đất. Thời gian đi ngang qua [1] sẽ khác biệt nếu nhìn từ những điểm xa nhau trên mặt đất, vì sự khác biệt nhỏ trong góc nhìn của người quan sát nó. Nếu có nhiều quan sát của lần đi qua này được thực hiện từ những đại lục khác nhau, tất cả những gì phải làm là lượng giác học đơn giản để tính khoảng cách chính xác giữa chúng ta và mặt trời.


Những nhà thiên văn dự đoán rằng lần đi qua kế tiếp của Venus sẽ xảy ra vào những năm 1761 và 1769. Vì vậy, những đoàn thám hiểm từ châu Âu đã được gửi đi khắp thế giới để quan sát, từ nhiều điểm càng xa nhất có thể được càng tốt. Năm 1761, những nhà khoa học đã quan sát từ Siberia, Bắc Mỹ, Madagascar và Nam Phi. Khi năm 1769 đến gần, cộng đồng khoa học châu Âu dồn một nỗ lực tối cao, và những nhà khoa học đã được gửi đi thật xa như miền bắc Canada, và California (lúc đó còn là một vùng hoang dã). Hàn lâm viện Hoàng gia London về Cải thiện Kiến ​​thức về Tự nhiên đã kết luận rằng điều này vẫn chưa đủ. Để có được những kết quả chính xác nhất, điều bắt buộc là phải gửi một nhà thiên văn xuống tận vùng tây-nam biển Pacific.

Hàn lâm viện Hoàng gia giải quyết bằng gửi một nhà thiên văn nổi tiếng, Charles Green, đến Tahiti, và đã không quản nỗ lực cũng chẳng ngại tốn kém. Nhưng khi đã tài trợ một chuyến thám hiểm đắt tiền như vậy, hầu như vô nghĩa nếu chỉ dùng nó để làm một việc duy nhất là quan sát thiên văn. Do đó, đi kèm với Charles Green là một nhóm 8 nhà khoa học khác, từ một số ngành học, đứng đầu là hai nhà thực vật học Joseph Banks và Daniel Solander. Nhóm nghiên cứu cũng gồm những hoạ sĩ được giao việc làm vẽ những hoạ đồ về những vùng đất, thực vật, động vật và những tộc người mới, mà những nhà khoa học chắc chắn sẽ gặp gỡ. Được trang bị những thiết bị khoa học tân tiến nhất vốn Ngân hàng và Hội Hàn lâm Hoàng gia có thể mua được, đoàn thám hiểm đã đặt dưới chỉ huy của thuyền trưởng James Cook, một người đi biển kinh nghiệm cũng như một nhà địa lý và dân tộc học chuyên môn. [2]

Đoàn thám hiểm rời nước Anh năm 1768, từ Tahiti quan sát Venus đi ngang vào năm 1769, trinh sát một số quần đảo ở Pacific, đến thăm Australia và New Zealand, và trở về Anh vào năm 1771. Nó mang theo một số lượng rất lớn dữ liệu thiên văn học, địa lý, khí tượng học, thực vật, động vật và nhân chủng học. Những tìm tòi của nó có những đóng góp rất lớn vào một số ngành học, nẩy bùng óc tưởng tượng của người Âu trước những câu chuyện kinh ngạc thần diệu của vùng biển Nam Pacific, và gây hứng khởi cho những thế hệ tương lai của những nhà tự nhiên học và thiên văn học.

Một trong những lĩnh vực được hưởng lợi từ cuộc thám hiểm Cook đã là y học. Vào thời đó, những con tàu dương buồm ra khơi đến những bờ xa xôi, biết rằng hơn một nửa đoàn thuỷ thủ của họ sẽ chết dọc đường. Kẻ thù không phải là những người bản xứ tức giận, những tàu chiến đối phương, hay những biến chứng của bệnh nhớ nhà. Nhưng một căn bệnh bí ẩn gọi là scurvy. Những người ngã bệnh này, uể oải lờ đờ và chán nản, nướu răng và những mô tế bào mềm khác chảy máu. Khi bệnh tiến triển, răng rụng, lở loét xuất hiện và họ sốt nặng, vàng da, và chân tay mất cử động. Giữa thế kỷ XVI và XVIII, bệnh scurvy được ước tính đã cướp đi sinh mạng của khoảng 2 triệu thủy thủ. Không ai biết những gì gây ra nó, và bất kể những chữa trị đã được thử, những thủy thủ tiếp tục chết hàng loạt. Bước ngoặt đã xảy đến năm 1747, khi một y sĩ người Anh, James Lind, đã tiến hành một thí nghiệm có kiểm soát với những thủy thủ đã nhiễm bệnh. Ông tách họ ra thành nhiều nhóm, và cho mỗi nhóm một điều trị khác biệt. Một trong những nhóm thí nghiệm đã được hướng dẫn để ăn những loại trái cây trong chi cam quít (citrus), một phương thuốc dân gian phổ biến cho scurvy. Những bệnh nhân trong nhóm này mau hồi phục. Lind không biết những trái cây chi cam quýt có gì mà thân thể của những thủy thủ đã thiếu, nhưng bây giờ chúng ta biết rằng nó là vitamin C. Một danh sách những thức ăn uống thông thường trên tàu biển, điển hình tại thời đó, đã đặc biệt thiếu những loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng thiết yếu này. Trên những chuyến đi biển dài, thủy thủ thường sống bằng bánh bíchquy và thịt bò khô, và hầu như không ăn trái cây, hoặc rau.

Những thí nghiệm của Lind không thuyết phục được Hải quân Hoàng gia, nhưng thuyết phục được James Cook. Ông quyết tâm để chứng minh vị y sĩ này đúng. Ông chất lên thuyền của ông một lượng lớn sauerkraut, thứ bắp cải muối chua, và ra lệnh cho những thủy thủ của ông ăn thật nhiều trái cây tươi và rau quả mỗi khi đoàn thám hiểm có dịp ghé bờ. Cook đã không mất một thủy thủ duy nhất nào vì bệnh scurvy. Trong những chục năm sau đó, tất cả những hải quân trên thế giới đều tiếp nhận khẩu phần đi biển này của Cook, và đã cứu được vô số mạng sống của những thủy thủ và hành khách.[3]

Tuy nhiên, đoàn thám hiểm Cook có một kết quả khác, ít tử tế hơn nhiều. Cook không chỉ là một nhà hàng hải và địa lý có kinh nghiệm, nhưng cũng là một sĩ quan hải quân. Hàn lâm viện Hoàng gia tài trợ một phần lớn chi phí của chuyến thám hiểm, nhưng chính con thuyền đã được Hải quân Hoàng gia cung cấp. Hải quân cũng phái một đoàn gồm 85 thủy thủ và lính thủy quân lục chiến với vũ khí đầy đủ, và trang bị con thuyền với pháo binh, súng trường, thuốc súng và những loại vũ khí khác. Phần lớn những dữ liệu thông tin được thu thập trong cuộc thám hiểm, đặc biệt là những dữ liệu thiên văn, địa lý, khí tượng và nhân chủng –hiển nhiên đã có những giá trị về chính trị và quân sự. Việc tìm ra một điều trị hiệu quả cho bệnh scurvy cũng góp phần rất lớn vào sự kiểm soát của nước Anh với những đại dương khắp thế giới, và với khả năng của nó để gửi quân đội sang những đại dương ở mặt bên kia thế giới. Cook đã tuyên xưng cho nước Anh rất nhiều quần đảo và vùng đất do ông “tìm ra”, đáng chú ý nhất là Australia. Chuyến thám hiểm của Cook đã đặt nền móng cho sự chiếm đóng của nước Anh ở vùng tây-nam Pacific; cho sự chinh phục Australia, Tasmania, và New Zealand; cho sự định cư hàng triệu người Âu trên những thuộc địa mới; và cho sự hủy diệt của những văn hóa và hầu hết dân cư bản địa của những thuộc địa này. [4]

Trong những thế kỷ theo sau cuộc thám hiểm Cook, vùng đất màu mỡ nhất của Australia và New Zealand đã bị những người định cư châu Âu tước khỏi tay những cư dân trước đây của chúng. Dân số của khối cư dân bản địa giảm đi, đến 90 phần trăm, và những người sống sót đã phải chịu một chế độ đàn áp chủng tộc khắc nghiệt. Đối với những thổ dân của Australia, và những người Maori của New Zealand, đoàn thám hiểm Cook đã là khởi đầu của một thảm họa mà sau đó họ đã không bao giờ hồi phục được.

Một số phận còn thê thảm hơn đã giáng xuống những người bản địa của đảo Tasmania. Sau khi đã tồn tại hàng 10.000 năm trong cô lập tuyệt diệu, họ đã hoàn toàn bị xoá sạch, cho đến người nam, nữ và trẻ em cuối cùng, chỉ trong một thế kỷ kể từ khi đoàn thám hiểm Cook đến nơi. Những người định cư châu Âu đầu tiên chở họ ra khỏi những phần giàu nhất của hòn đảo, và sau đó, vẫn thèm muốn ngay cả những vùng hoang còn lại, đã săn lùng, bắt giết họ một cách hệ thống. Một ít sống sót đã bị lùa vào một trại tập trung của hội truyền đạo nhà thờ, nơi người truyền giáo, dù đầu óc đầy những ý định tốt nhưng đặc biệt không chút cởi mở, đã cố gắng tẩy não họ, ép buộc họ sống theo cách của thế giới (châu Âu Kitô) hiện đại. Những người Tasmania sống sót đã được hướng dẫn để đọc và viết, để theo đạo Kitô, và những ‘kĩ năng’ như may quần áo, và canh tác. Nhưng họ đã từ chối để học những điều đó. Họ đã trở nên u buồn hơn, thôi không sinh con, mất tất cả quan tâm vào đời sống, và cuối cùng đã chọn con đường duy nhất thoát khỏi ​​thế giới hiện đại của khoa học và tiến bộ – cái chết. [5]

Than ôi, khoa học và tiến bộ theo đuổi họ ngay cả sang tận thế giới bên kia. Những xác chết của những người Tasmania cuối cùng đã bị những nhà nhân chủng học và quản thủ viện bảo tàng thu giữ, nhân danh khoa học. Chúng đã được mổ xẻ, cân và đo, và phân tích trong những khảo cứu của giới bác học. Những chiếc sọ và xương, sau đó được đưa vào trưng bày trong những viện bảo tàng, và những bộ sưu tập nhân chủng học. Chỉ đến năm 1976, viện bảo tàng Tasmania mới chịu thua, cho chôn cất hài cốt của bà Truganini, người bản địa Tasmania cuối cùng, đã chết từ một trăm năm trước đó. Hội đồng những nhà giải phẫu hoàng gia Anh giữ chặt những mẫu da và mái tóc của bà, cho đến năm 2002.

Có phải con thuyền Cook đã là một thám hiểm khoa học được một lực lượng quân sự bảo vệ, hay một đoàn thám hiểm quân sự với một số nhà khoa học đã cùng đi theo chiến thuyền? Điều đó giống như hỏi bình xăng của bạn là đầy một nửa, hay vơi một nửa. Nó là cả hai. Cách mạng Khoa học và chủ nghĩa đế quốc hiện đại đã không thể tách rời. Những người như thuyền trưởng James Cook và nhà thực vật học Joseph Banks đều khó có thể phân biệt giữa khoa học và đế quốc. Cũng không thể, người phụ nữ bất hạnh Truganini.

Tại sao châu Âu?

Sự kiện là những người từ một đảo lớn ở phía bắc biển Atlantic đã chinh phục một đảo lớn ở phía nam của châu Australia là một trong những xảy ra kỳ ​​dị hơn cả của lịch sử. Không lâu trước đoàn thám hiểm của Cook, quần đảo Anh và Tây Âu nói chung, đã là những vùng xa xôi, bùn lầy nước đọng của thế giới Mediterranean. Rất ít có gì quan trọng từng bao giờ xảy ra ở đó. Ngay cả đế quốc Rome – đế quốc châu Âu quan trọng duy nhất trước thời nay – có hầu hết của cải giàu có của nó đóng góp từ những tỉnh thuộc địa ở Bắc Phi, Balkan, và Trung Đông của nó. Còn những tỉnh miền Tây Âu của Rome là một vùng “Viễn Tây” nghèo, đóng góp ít, ngoại trừ khoáng sản và nô lệ. Vùng Bắc Âu đã quá hẻo lánh và hoang dã, khiến nó ngay cả không đáng bõ công chinh phục.

Hình 35. Truganini, người bản địa Tasmania cuối cùng.


Chỉ đến cuối thế kỷ XV, châu Âu mới đã trở thành một môi trường tăng trưởng sôi động, đầy những phát triển quân sự, kinh tế, văn hóa và chính trị quan trọng. Giữa những năm 1500 và 1750, Tây Âu đã đạt được đà, và trở thành ông chủ của ‘Thế giới Ngoài’, có nghĩa là hai lục địa Bắc và Nam châu Mỹ và những đại dương. Tuy nhiên, ngay cả khi đó châu Âu cũng vẫn không sánh được với những cường quốc châu Á. Châu Âu thành công trong sự chinh phục châu Mỹ và đạt được ưu thế trên biển, chủ yếu là những cường quốc châu Á đã cho thấy ít có quan tâm đến chúng. Đầu kỷ nguyên hiện đại là một thời hoàng kim của những đế quốc Ottoman ở Mediterranean, Đế quốc Safavid ở Persia, Đế quốc Mughal ở India, và những triều đại Ming và Qing ở Tàu. Chúng đã mở rộng lãnh thổ của chúng một cách đáng kể, và đạt mức tăng trưởng dân số và kinh tế chưa từng có. Năm 1775, châu Á chiếm 80 phần trăm của kinh tế thế giới. Chỉ hai nền kinh tế kết hợp của India và Tàu đã chiếm hai phần ba sản lượng toàn cầu. Trong khi đó, châu Âu là một “người lùn” về kinh tế. [6]

Trung tâm quyền lực thế giới chỉ chuyển sang châu Âu, khoảng giữa những năm 1750 và 1850, khi người Âu làm nhục những cường quốc châu Á trong một loạt những chiến tranh, và xâm chiếm phần lớn châu Á. Đến năm 1900, châu Âu kiểm soát chặt chẽ kinh tế, và hầu hết lãnh thổ của thế giới. Năm 1950, Tây Âu cùng nước Mỹ đã chiếm hơn một nửa sản lượng toàn cầu, trong khi đó, phần của nước Tàu đã giảm xuống chỉ còn 5 %. [7] Dưới vòm che chở của châu Âu, nổi lên một trật tự và văn hóa mới trên toàn thế giới. Ngày nay, tất cả mọi người, đến một mức độ lớn hơn nhiều, so với họ thường muốn thừa nhận, là đều trong trang phục, tư tưởng và thẩm vị theo châu Âu. Họ có thể là quyết liệt chống châu Âu trong lời nói của họ, nhưng hầu như tất cả mọi người trên hành tinh có quan điểm chính trị, y học, chiến tranh và kinh tế qua đôi mắt châu Âu, và lắng nghe âm nhạc được viết theo thang âm châu Âu, với những lời nhạc trong ngôn ngữ châu Âu. Ngay cả nền kinh tế Tàu ngày nay đang phát triển, nó có thể sớm lấy lại ví trí hàng đầu của nó trên thế giới, cũng được xây dựng trên một mô hình sản xuất và tài chính châu Âu.

Những người trong vùng đất hình dạng như một “ngón tay lạnh lẽo” của đại lục Eurasia đã thoát khỏi góc hẻo lánh của thế giới của họ, và đã chinh phục thành công toàn thế giới, như thế nào? Những nhà khoa học châu Âu thường được cho là có nhiều công trạng. Điều không thể nghi ngờ rằng, từ năm 1850 trở đi, sự thống trị châu Âu, đến một mức độ lớn, nằm trên những tổ hợp quân sự-kỹ nghệ-khoa học và kỹ thuật thần diệu. Tất cả những đế quốc thành công vào cuối thời hiện đại, đều cấy trồng nghiên cứu khoa học với hy vọng gặt hái những kỹ thuật đổi mới, và nhiều nhà khoa học đã dành hầu hết thời gian của họ, làm việc trong những lĩnh vực vũ khí, y học, và máy móc cho những ông chủ đế quốc của họ. Một câu nói phổ biến giữa những người Âu trước những kẻ địch người châu Phi là, “Dù gì có thể xảy ra đi nữa, nhưng chúng ta có súng máy, và họ không có”. Kỹ thuật dân sự là quan trọng không kém. Thực phẩm đóng hộp nuôi binh lính, đường sắt và tàu hoả vận chuyển quân đội, và lương thực của họ, trong khi một kho những loại thuốc mới chữa bệnh cho quân sĩ, cả bộ lẫn thuỷ, và những kỹ sư hoả xa. Những tiến bộ hậu cần này đóng một vai trò quan trọng hơn, trong chinh phục châu Phi của châu Âu, so với những cỗ súng máy.

Nhưng đó không phải là trường hợp trước 1850. Những tổ hợp quân sự-kỹ nghệ-khoa học vẫn còn trong trứng nước; những thành quả kỹ thuật của Cách mạng Khoa học vẫn chưa chín mùi; và khoảng cách kỹ thuật giữa những cường quốc châu Âu, châu Á và châu Phi là nhỏ. Năm 1770, James Cook chắc chắn đã có kỹ thuật tốt hơn nhiều so với của những thổ dân Australia, nhưng những người đế quốc Tàu và đế quốc Ottoman cũng thế. Tại sao sau đó thuyền trưởng James Cook khám phá chiếm làm thuộc địa Australia, nhưng không pthuyền biển trưởng Wan Zhengse hay thuyền trưởng Hussein Pasha? [8] Quan trọng hơn, nếu năm 1770 châu Âu đã không có lợi thế về kỹ thuật đáng kể so với những người Muslim, India và Tàu, làm thế nào họ đã thành công trong những thế kỷ tiếp theo để mở ra một khoảng cách lớn như vậy, giữa họ và tất cả phần thế giới còn lại?

Tại sao những tổ hợp quân sự-kỹ nghệ-khoa học đã bừng nở ở châu Âu hơn là ở India? Khi nước Anh nhảy vọt về trước, tại sao Pháp, Germany và Mỹ đã nhanh chóng đi theo, trong khi Tàu vẫn tụt phía sau? Khi khoảng cách giữa những quốc gia kỹ nghệ và phi-kỹ nghệ đã rõ ràng trở thành yếu tố kinh tế và chính trị, tại sao những Nga, Italy và Austria đã thành công trong việc lấp bằng nó, trong khi Persia, Egypt và đế quốc Ottoman đã thất bại? Sau hết, kỹ thuật của đợt sóng kỹ nghệ đầu tiên tương đối là đơn giản. Tại sao đã rất khó khăn cho nước Tàu, hay đế quốc Ottoman, để thiết kế những động cơ hơi nước, chế tạo những súng máy, và đặt những tuyến đường sắt?

Đường sắt giao thông đầu tiên trên thế giới mở cho thương mại năm 1830, ở Anh. Đến năm 1850, những nước phương Tây đã chằng chịt với gần 40.000 km đường sắt – nhưng toàn thể châu Á, Phi và Mỹ Latin chỉ có 4.000 km đường sắt. Trong năm 1880, phương Tây tự hào có hơn 350.000 km đường sắt, trong khi đó trong phần còn lại của thế giới đã chỉ có 35.000 km đường xe lửa (và hầu hết trong số này được người Anh đặt ở India) . [9] Đường sắt đầu tiên ở Tàu chỉ mở vào năm 1876. Đó là 25 km và do người Âu xây dựng – nhưng chính phủ Tàu hủy bỏ nó vào năm sau. Năm 1880 Đế quốc Tàu đã không có lấy được một tuyến đường sắt hoạt động. Tuyến đường sắt đầu tiên ở Persia chỉ được xây dựng năm 1888, và nó nối với Tehran với một thánh địa đạo Islam, khoảng 10 km về phía nam thủ đô này. Nó được một công ty của Belgium xây dựng và điều hành. Năm 1950, tổng số mạng lưới đường sắt của Persia đã lên tới chỉ 2.500 km ít ỏi, trong một nước có kích thước bằng 7 lần nước Anh.[10]

Người Tàu và người Persia đã không thiếu những phát minh kỹ thuật loại giống như động cơ hơi nước (vốn nó có thể được sao chép nếu muốn, hoặc mua lại). Họ đã thiếu những giá trị, những huyền thoại, những guồng máy tư pháp và những cấu trúc chính trị xã hội phức tạp vốn phải mất nhiều thế kỷ mới thành hình và trưởng thành ở phương Tây, và chúng không thể sao chép và lĩnh hội nhanh chóng. Pháp và Mỹ nhanh chóng theo bước chân của Anh, vì người Pháp và người Mỹ đã chia sẻ cùng những huyền thoại và những cấu trúc xã hội quan trọng nhất với người Anh. Người Tàu và người Persia không thể bắt nhanh kịp, vì họ đã suy nghĩ và tổ chức xã hội của họ khác biệt. [11]

Giải thích này chiếu thêm ánh sáng trên giai đoạn từ 1500 đến 1850. Trong thời kỳ này, châu Âu đã không được hưởng bất kỳ lợi thế nào rõ ràng về kỹ thuật, chính trị, quân sự và kinh tế hơn những cường quốc châu Á, thế nhưng đại lục này tạo dựng được một tiềm năng độc đáo, sự quan trọng của nó đột nhiên trở nên rõ ràng quanh những năm1850. Sự ngang bằng thấy bên ngoài giữa châu Âu, Tàu và thế giới Islam vào năm 1750 đã là một ảo ảnh. Hãy tưởng tượng hai người xây tháp, mỗi người bận rộn xây những tòa tháp rất cao. Một người dùng gỗ và gạch, trong khi người kia dùng thép và bê tông. Lúc đầu, giữa hai phương pháp dường như không có nhiều khác biệt, vì cả hai tháp đều lên cao dần với tốc độ tương tự, và đạt độ cao tương tự. Tuy nhiên, một khi vượt qua lằn mức then chốt quyết định, tháp gỗ và gạch không thể chịu được sức đè nặng và sụp đổ, trong khi tháp thép và bê tông cao dần, tầng này trên tầng kia, cao vút theo tầm mắt có thể nhìn thấy.

Tiềm năng nào đã phát triển ở châu Âu thời cận đại khiến nó có khả năng sau này thống trị thế giới hiện đại? Câu hỏi này có hai trả lời bổ túc cho nhau: khoa học hiện đại và chủ nghĩa tư bản. Những người Âu đã quen với suy nghĩ và hành xử trong lối của khoa học và chủ nghĩa tư bản, ngay cả trước khi họ được hưởng bất kỳ một lợi thế kỹ thuật nào quan trọng đáng kể. Khi vận may đột nhiên về kỹ thuật đã bắt đầu, những người Âu có thể kiểm soát và xử dụng nó giỏi hơn nhiều so với bất kỳ ai khác. Vì vậy, đó là hầu như hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà khoa học và chủ nghĩa tư bản đã thành hình di sản quan trọng nhất vốn chủ nghĩa đế quốc châu Âu đã để gia tài lại cho thế giới sau-châu Âu của thế kỷ XXI. Châu Âu và những người Âu thôi không cai trị thế giới nữa, nhưng khoa học và tư bản đang phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Những chiến thắng của chủ nghĩa tư bản được xem xét trong chương sau. Chương này dành riêng cho câu chuyện tình giữa chủ nghĩa đế quốc châu Âu và khoa học hiện đại.

Não thức của Chinh phục

Khoa học hiện đại phát triển mạnh mẽ trong những đế quốc và nhờ những đế quốc châu Âu. ngành kiến thức chuyên môn này rõ ràng là mang nợ rất lớn với những truyền thống khoa học thời cổ, như của cổ điển Greece, Tàu, India và Islam, nhưng tính cách độc đáo của nó bắt đầu thành hình chỉ trong thời cận đại, song song với sự bành trướng đế quốc của Spain, Portugal, Anh, Pháp, Russia và Netherland. Trong thời cận đại, những người Tàu, India, Muslim, người bản địa châu Mỹ, và người những quần đảo Polynesia đã tiếp tục làm những đóng góp quan trọng cho cuộc Cách mạng Khoa học. Những hiểu biết sâu xa của những nhà kinh tế Muslim đã được Adam Smith và Karl Marx nghiên cứu, những điều trị những thày thuốc người bản địa châu Mỹ đi tiên phong, đã tìm thấy đường của chúng đưa vào những văn bản y học tiếng Anh, và những dữ liệu trích từ những nguồn Polynesia thông thạo đã cách mạng ngành học về loài người ở phương Tây. Nhưng cho đến giữa thế kỷ XX, những người thu nhặt và kết hợp vô số chi ly phức tạp những khám phá khoa học này, tạo lập những ngành khoa học trong tiến trình đó, đã là những trí tuệ tinh hoa và điều hành ưu tú của những đế quốc toàn cầu châu Âu. Thế giới Viễn Đông và Islam cũng đào tạo được những não thức thông minh và hiếu kỳ như của những người Âu. Tuy nhiên, giữa những năm 1500 và 1950, chúng đã không sản xuất được bất cứ gì ngay cả dẫu chỉ gần với vật lý Newton hay sinh học Darwin.

Điều này không có nghĩa rằng duy nhất người Âu có một gene cho khoa học, hoặc rằng họ sẽ mãi mãi thống trị những ngành nghiên cứu vật lý và sinh học. Cũng giống như đạo Islam đã bắt đầu như một độc quyền của người Arab, nhưng sau đó đã lần lượt được người Turk và Persia nắm giữ, nên khoa học hiện đại đã bắt đầu như một sản phẩm đặc biệt của châu Âu, nhưng ngày nay đang trở thành một công trình phức tạp nhiều tộc người.

Những gì đã đúc nên sự ràng buộc lịch sử giữa khoa học hiện đại và chủ nghĩa đế quốc châu Âu? Kỹ thuật là một yếu tố quan trọng trong thế kỷ XIX và XX, nhưng ở đầu thời hiện đại, nó đã có mức quan trọng giới hạn. Yếu tố quan trọng đã là những nhà thực vật học đi tìm cây cỏ, và những sĩ quan hải quân đi tìm thuộc địa, họ cùng chia sẻ một đầu óc suy nghĩ tương tự. Cả hai, nhà khoa học và kẻ chinh phục đã bắt đầu bằng thú nhận sự thiếu hiểu biết – họ đều nói rằng, “Tôi không biết ngoài kia có những gì”. Cả hai đều cảm thấy bắt buộc phải đi ra ngoài kia, và tạo những khám phá mới. Và cả hai đều hy vọng những kiến ​​thức mới được thu nhận như thế sẽ làm cho họ thành những người chủ của thế giới.

Chủ nghĩa đế quốc châu Âu đã hoàn toàn không giống như tất cả những dự án đế quốc khác trong lịch sử. Những người tìm đế quốc trước đây đã có khuynh hướng cho rằng họ đã biết thế giới rồi. Chinh phục chỉ đơn thuần đã xử dụng và truyền bá quan điểm của họ về thế giới. Người Arab, lấy kể một thí dụ, đã không chinh phục Egypt, Spain hay India để khám phá một gì đó mà họ không biết. Người Rome, Mongol và Aztecs ngấu nghiến chinh phục những đất mới để tìm kiếm quyền lực và sự giàu có – không phải kiến ​​thức. Ngược lại, những đế quốc châu Âu lên đường đi đến những bờ biển xa xôi trong hy vọng có được kiến ​​thức mới cùng những đất mới.

James Cook đã không là nhà thám hiểm đầu tiên nghĩ theo lối này. Những nhà du hành Portugal và Spain vào thế kỷ XV và XVI đã làm như vậy. Hoàng tử Henry the Navigator và Vasco da Gama đã thám hiểm những bờ biển châu Phi, và trong khi làm vậy, đoạt quyền kiểm soát những hòn đảo và bến cảng. Christopher Columbus “tìm ra” Mỹ và ngay lập tức tuyên bố chủ quyền trên những vùng đất mới cho vua Spain. Ferdinand Magellan tìm thấy một con đường vòng quanh thế giới, và đồng thời đặt nền móng cho sự chinh phục quần đảo Philippines của Spain.

Với thời gian trôi qua, chinh phục kiến ​​thức và chinh phục lãnh thổ đã trở nên càng gắn bó chặt chẽ với nhau hơn. Trong thế kỷ XVIII và XIX, hầu hết những thám hiểm quân sự quan trọng, rời châu Âu đến những vùng đất xa, đều đã có những nhà khoa học trên boong tàu, là người đi không phải để chiến đấu nhưng để làm những khám phá khoa học. Khi Napoleon xâm lăng Egypt năm 1798, ông đem theo 165 học giả với ông. Trong số những sự việc khác, họ đã thành lập một ngành học hoàn toàn mới, Egypt học, và làm được những đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu về tôn giáo, ngôn ngữ học và thực vật học.

Năm 1831, Hải quân Hoàng gia gửi thuyền HMS Beagle để vẽ bản đồ những vùng bờ biển Nam Mỹ, quần đảo Falklands và quần đảo Galapagos. Hải quân Anh cần kiến ​​thức này để chuẩn bị tốt hơn trong trường hợp xảy ra chiến tranh. Thuyền trưởng của tàu, là người một nhà khoa học tài tử, đã quyết định thêm một nhà địa chất học vào đoàn thám hiểm, để nghiên cứu những cấu tạo địa chất mà họ có thể gặp trên đường đi. Sau khi một số nhà địa chất chuyên nghiệp từ chối lời mời của ông, thuyền trưởng đã trao việc này cho một người 22 tuổi, mới tốt nghiệp đại học Cambridge, Charles Darwin. Darwin đã từng học để trở thành một giáo sĩ đạo Anh, nhưng quan tâm nhiều về địa chất và khoa học tự nhiên hơn về kinh Thánh. Ông nắm lấy cơ hội, và những gì còn lại đã là lịch sử. Thuyền trưởng đã dành thời giờ của mình dọc hành trình vẽ những bản đồ quân sự, trong khi Darwin thu thập những dữ liệu thực nghiệm và xây dựng những hiểu biết sâu xa mà cuối cùng sẽ trở thành thuyết Tiến hóa.

Ngày 20 tháng 7 năm 1969, Neil Armstrong và Buzz Aldrin đặt chân lên mặt trăng. Trong những tháng trước đó, dẫn đến cuộc thám hiểm này của họ, những nhà phi hành của phi thuyền Apollo 11 đã được huấn luyện trong một sa mạc hẻo lánh có địa thế giống-mặt trăng ở vùng viễn Tây nước Mỹ. Khu vực này là nơi có nhiều cộng đồng người Mỹ bản địa, và có một câu chuyện – hay truyền thuyết – mô tả một cuộc gặp gỡ giữa những nhà phi hành và một trong những người dân địa phương.

Một ngày nọ, khi họ đang được huấn luyện, những nhà phi hành ngẫu nhiên gặp một cụ già người Mỹ bản xứ. Cụ hỏi họ họ đang làm gì ở đó. Họ trả lời rằng họ là phần của một chương trình nghiên cứu thám hiểm, trong thời gian ngắn sẽ đi lên mặt trăng. Khi cụ già nghe nói thế, cụ đã im lặng trong vài phút, và sau đó hỏi những nhà phi hành xem nếu họ có thể làm ơn làm cho cụ một việc.

“Cụ muốn gì?” Họ hỏi. “Vâng,” ông cụ nói, “những người cùng bộ tộc của tôi tin rằng những thần tinh linh thiêng sống trên mặt trăng. Tôi đã tự hỏi nếu quí ông có thể chuyển một thông điệp quan trọng từ dân tộc chúng tôi đến họ”.
“Thông điệp gì?” những nhà phi hành hỏi.
Ông cụ già thốt ra lời về một gì đó bằng ngôn ngữ bộ lạc của cụ, và sau đó yêu cầu những nhà phi hành lập đi lập lại câu nói đó nhiều lần, cho đến khi họ thuộc lòng nó thật chính xác.
“Nó có nghĩa gì vậy?” những nhà phi hành hỏi thêm.
“Ồ, tôi không thể nói cho các ông nghe. Đó là một bí mật chỉ có bộ lạc chúng tôi và những thần tinh linh thiêng trên mặt trăng mới được phép biết”.

Khi họ trở về căn cứ, những nhà phi hành đã cố và tìm mãi, cho đến khi họ kiếm được một người có thể nói ngôn ngữ của bộ lạc đó, và nhờ anh ta dịch thông điệp bí mật này. Sau khi lập lại những gì họ đã thuộc lòng, người thông dịch đã không nhịn được, bắt đầu phá ra cười. Khi anh đã bình tĩnh lại, những nhà phi hành hỏi anh ta nó có nghĩa là gì. Người thông dịch giải thích rằng câu nói họ đã thuộc lòng rất cẩn thận đó, nói: “Đừng tin dẫu một lời duy nhất nào những người này đang nói với bạn. Họ đã đến để đánh cắp đất của bạn”.
                                                                                 
Những Bản đồ có Khoảng trống

Não thức “khám phá và chinh phục” hiện đại được minh họa khéo léo bằng sự phát triển của những bản đồ thế giới. Nhiều văn hóa đã vẽ những bản đồ thế giới từ lâu trước thời hiện đại. Rõ ràng, không một nào trong những văn hoá này thực sự biết được toàn thể thế giới. Không văn hóa châu Á-Phi nào đã biết về châu Mỹ, và không văn hóa châu Mỹ nào đã đã biết về châu Á-Phi. Những khu vực xa lạ đã chỉ giản dị được bỏ qua, hoặc vẽ đầy những quái vật và những kỳ quan tưởng tượng. Những bản đồ này không có những khoảng trống. Chúng đã cho ấn tượng về một sự thân thuộc với toàn thể thế giới.

Trong những thế kỷ XV và XVI, người Âu bắt đầu vẽ bản đồ thế giới với rất nhiều những khoảng trống – một chỉ định về sự phát triển của đầu óc khoa học, cũng như của động lực đế quốc của châu Âu. Những bản đồ trống đã là một bước phá vỡ về tâm lý và tư tưởng, một sự thừa nhận rõ ràng rằng những người Âu đã không biết gì về những phần rộng lớn của thế giới.

Bước rẽ quan trọng đã đến vào năm 1492, khi Christopher Columbus dong buồm từ Spain đi về hướng Tây, tìm một con đường mới đến Đông Á. Columbus vẫn tin vào những bản đồ ‘đầy đủ’ cũ của thế giới. Khi dùng chúng, Columbus tính toán rằng Japan ắt phải có vị trí khoảng 7.000 km về phía tây của Spain. Trong thực tế, đó là hơn 20.000 km và toàn thể một lục địa chưa biết, đã phân cách Đông Á với Spain. Ngày 12 tháng 10 năm 1492, vào khoảng 2:00 sáng, đoàn thám hiểm Columbus va vào một lục địa chưa biết. Juan Rodriguez Bermejo, đứng canh trên cột buồm của tàu Pinta, nhìn thấy một hòn đảo ngày nay chúng ta gọi là đảo Bahamas, và hét lên “Đất! Đất!”

Columbus tin rằng ông đã đến một đảo nhỏ ngoài khơi bờ biển Đông Á. Ông gọi những người ông gặp ở đó là những “người India”, vì ông nghĩ rằng mình đã đổ bộ lên India – vùng ngày nay chúng ta còn gọi là Đông India [12], hoặc quần đảo Indonesia. Columbus ôm lầm lẫn này cho đến hết đời ông. Ý tưởng rằng ông đã tìm ra một lục địa hoàn toàn không biết, là một gì đó không thể tưởng được với ông, và với nhiều người cùng thế hệ ông. Trong hàng nghìn năm, không riêng những nhà tư tưởng, và những học giả vĩ đại nhất, mà ngay cả quyển kinh Thánh “không thể sai lầm” cũng đã biết đến chỉ châu Âu, châu Phi và châu Á. Có thể nào tất cả đều đã sai lầm? Có thể nào quyển sách Thánh đã bỏ mất một nửa thế giới? Nó sẽ tựa như, nếu trong năm 1969, trên đường tới mặt trăng, phi thuyền Apollo 11 đã va vào một mặt trăng trước giờ chưa biết, cũng quay quanh quả đất, vốn tất cả những quan sát thiên văn trước đây, cách nào đó, đã không nhìn ra. Trong sự từ chối của ông, không thú nhận sự thiếu hiểu biết, Columbus đã vẫn là một con người Trung cổ. Ông được thuyết phục rằng ông đã biết trọn thế giới, và ngay cả sự khám phá lớn lao của chính ông cũng thất bại, đã không thuyết phục được ông nghĩ khác đi.


Hình 36. Một bản đồ thế giới của Châu Âu từ năm 1459 (Châu Âu nằm ở góc trên bên trái). Bản đồ được lấp đầy với những chi tiết, ngay cả khi nó mô tả khu vực hoàn toàn xa lạ với người Âu, như Nam Phi.


Con người hiện đại đầu tiên là Amerigo Vespucci, một thủy thủ người Ý, đã tham gia vào nhiều cuộc thám hiểm tới châu Mỹ trong những năm 1499-1504. Giữa những năm 1502 và 1504, hai bản văn mô tả những thám hiểm này đã được xuất bản ở châu Âu. Chúng đã được quy cho Vespucci. Những bản văn này lập luận rằng những vùng đất mới được Columbus tìm ra không phải là những đảo ngoài khơi bờ biển Đông Á, mà đúng hơn là toàn bộ một lục địa vốn kinh Thánh, những nhà địa lý cổ điển, và châu Âu đương thời, tất cả đều chưa biết đến. Năm 1507, được những lập luận này thuyết phục, một người làm bản đồ đáng phục, tên là Martin Waldseemüller, đã công bố một bản đồ thế giới được cập nhật, đầu tiên cho thấy nơi những đội thuyền đi về hướng tây châu Âu đã lên bờ như thuộc một lục địa riêng biệt. Sau khi vẽ nó xong, Waldseemüller phải cho lục địa này một tên gọi. Tin tưởng lầm lẫn rằng Amerigo Vespucci đã là người tìm ra lục địa, Waldseemüller đặt tên lục địa này, để vinh danh Vespucci – là “America”. [13] Bản đồ Waldseemüller trở nên rất phổ biến, và đã được nhiều nhà vẽ bản đồ khác sao chép, truyền bá tên ông đã đặt cho vùng đất mới. Có một công lý nên thơ trong thực tế, là một phần tư của thế giới, và hai trong số bảy lục địa của nó, được đặt theo tên một người Ý ít tiếng tăm, có tuyên bố độc nhất để thành nổi tiếng là ông đã có can đảm để nói, “Chúng ta không biết.” [14]

Tìm ra châu Mỹ đã là biến cố nền tảng của Cách mạng Khoa học. Nó không chỉ đã dạy người Âu nghiêng sang chọn những quan sát trong hiện tại thay vì từ những truyền thống của quá khứ, nhưng khao khát chinh phục châu America, cũng buộc người Âu tìm kiến ​​thức mới với tốc độ chóng mặt. Nếu họ thực sự muốn kiểm soát những vùng lãnh thổ mới rộng lớn, họ phải thu thập những khối lượng khổng lồ gồm những dữ liệu mới về địa lý, khí hậu, thực vật, động vật, ngôn ngữ, văn hóa và lịch sử của lục địa mới. Những kinh sách thánh Kitô, những sách địa lý, và những truyền thống khẩu truyền cổ xưa đã có rất ít giúp đỡ.

Từ đó về sau, không chỉ những nhà địa lý châu Âu, nhưng những học giả châu Âu, trong gần như tất cả những lĩnh vực khác của kiến ​​thức, đều bắt đầu vẽ những bản đồ với những khoảng trống, để sau sẽ điền vào. Họ bắt đầu thừa nhận rằng những lý thuyết của họ đã không phải là hoàn hảo, và có những điều quan trọng mà họ đã không biết.

Những người Âu đã được những điểm bỏ trắng trên bản đồ thu hút, như thể chúng là những nam châm, và họ đã kịp thời bắt đầu điền vào chúng. Trong suốt thế kỷ XV và XVI, những nhà thám hiểm châu Âu đi quanh châu Phi, khám phá châu Mỹ, vượt qua biển Pacific và India, và tạo ra một mạng lưới gồm những căn cứ và thuộc địa trên toàn thế giới. Họ đã thực sự thiết lập những đế quốc toàn cầu đầu tiên, và đan vào nhau mạng lưới thương mại toàn cầu đầu tiên. Những viễn chinh đế quốc của châu Âu đã chuyển đổi lịch sử thế giới: từ một loạt những lịch sử của những dân tộc và những văn hóa cô lập, nó đã trở thành lịch sử của một xã hội loài người duy nhất kết hợp thống nhất.


Hình 37. Bản đồ thế giới của Salviati, 1525. Trong khi bản đồ thế giới năm 1459 đầy những lục địa, đảo và giải thích chi tiết, bản đồ Salviati chủ yếu là trống rỗng. Con mắt dõi dọc về phía nam theo bờ biển châu Mỹ, cho đến khi nó mất dần vào trống rỗng. Bất cứ ai nếu nhìn vào bản đồ và có dẫu chỉ tò mò tối thiểu đều muốn hỏi, “Quá khỏi điểm này là gì?” Bản đồ không trả lời. Nó mời những người quan sát ra khơi và tìm cho ra.


Những thám hiểm khám phá-và-chinh phục này của những người Âu đã quá quen thuộc với chúng ta khiến chúng ta có khuynh hướng bỏ qua, không xem chúng đúng đã là phi thường thế nào. Không gì giống chúng đã từng xảy ra trước đây. Những chiến dịch chinh phục viễn chinh không phải là một công việc đảm nhận tự nhiên. Trong suốt lịch sử, hầu hết những xã hội loài người đã quá bận rộn với những xung đột địa phương và những tranh cãi với lân cận khiến chúng không bao giờ đã xem xét đến thám hiểm và chinh phục những vùng đất xa xôi. Hầu hết những đế quốc mở rộng kiểm soát của chúng chỉ trên những khu vực láng giềng trực tiếp của chúng – nếu chúng có mở ra đến những vùng đất xa xôi chỉ giản dị là vì những khu vực lân cận trực tiếp chúng đã tiếp tục mở rộng. Do đó, những người Rome chinh phục Etruria để bảo vệ Rome (c.350-300 TCN). Sau đó, họ đã chinh phục thung lũng Po để bảo vệ Etruria (c.200 TCN). Tiếp đó họ đi đến chinh phục vùng Provence để bảo vệ thung lũng Po (c.120 TCN), rồi xứ Gaul để bảo vệ Provence (c.50 TCN), và đảo Anh để bảo vệ xứ Gaul (c. 50 AD). Phải mất 400 năm để đi từ Rome đến London. Trong năm 350 TCN, không có người Rome nào trong đầu mang ý tưởng dùng thuyền đi thẳng tới đảo Anh để chinh phục nó.

Đôi khi một người cai trị hoặc mạo hiểm đầy tham vọng sẽ bắt tay vào một chiến dịch có mục tiêu chinh phục nằm rất xa, nhưng những chiến dịch như vậy thường theo sau những con đường quân sự đã bước mòn chân, hay thương mại quen thuộc. Những chiến dịch của đại đế Alexander, lấy thí dụ, đã không dẫn đến việc thành lập một đế quốc mới, nhưng đugs hơn là sự tiếm quyền một đế quốc đang hiện hữu – đó của người Persia. Những tiền lệ gần nhất với những đế quốc châu Âu hiện đại đã là những đế quốc hàng hải thời cổ của Athens và Carthage, và đế quốc hàng hải thời trung cổ của Majapahit, vốn nắm thống trị trên nhiều phần của quần đảo Indonesia trong thế kỷ XIV. Tuy nhiên, ngay cả những đế quốc này hiếm khi mạo hiểm vào vùng biển chưa biết – những khai thác hàng hải của họ đã là những đảm nhận ở địa phương khi so với những kế hoạch mạo hiểm trên thế giới rộng lớn của những người Âu hiện đại.

Nhiều học giả cho rằng chuyến đi của đô đốc Zheng He, triều Ming nước Tàu, đã báo trước và làm lu mờ những hành trình khám phá của người Âu. Giữa những năm 1405 và 1433, Zheng dẫn 7 đoàn thuyền biển khổng lồ từ Tàu đến những nơi xa xôi của biển India. Đoàn lớn nhất trong số này gồm gần 300 thuyền, và chở gần 30.000 người. [15] Họ đã đến thăm Indonesia, Sri Lanka, India, Vịnh Persia, Biển Đỏ và Đông Phi. Những thuyền của Tàu bỏ neo ở Jedda, hải cảng chính của Hejaz, và ở Malindi, trên bờ biển Kenya. Đội thuyền của Columbus năm1492 – trong đó bao gồm ba thuyền biển nhỏ với số người 120 thủy thủ – đã giống như một bộ ba con muỗi, so với những con rồng Zheng He đã điều khiển. [16]

Tuy nhiên có một sự khác biệt rất quan trọng. Zheng He đã thăm dò những đại dương, và trợ giúp những nhà cầm quyền thân Tàu, nhưng ông đã không cố gắng chinh phục, hoặc định cư ở những nước ông đến thăm. Hơn nữa, những thám hiểm của Zheng He đã không có gốc rễ sâu trong chính trị và văn hóa Tàu. Khi phái nắm quyền ở Bắc Kinh thay đổi trong những năm 1430, những lãnh chúa mới đột ngột đã chấm dứt hoạt động. Đoàn thuyền lớn bị tháo dỡ, kiến ​​thức kỹ thuật và địa lý quan trọng bị mất, và không có nhà thám hiểm Tàu nào với tầm vóc và phương tiện như vậy, đã bao giờ lại lần nữa khởi hành từ một hải cảng của Tàu. Những nhà cai trị Tàu trong những thế kỷ sau, giống như hầu hết những nhà cai trị Tàu trong những thế kỷ trước, chú tâm và tham vọng của họ giới hạn vào những vùng lân cận trực tiếp với “Đế quốc Nằm Giữa” này.

Những thám hiểm của Zheng He chứng minh rằng châu Âu đã không hưởng một kỹ thuật dẫn đầu vượt bực. Những gì đã làm những người Âu là siêu việt ngoại hạng đã là tham vọng vô song và vô độ của họ để khám phá và chinh phục. Dẫu họ đã có thể có khả năng, những người Rome đã không bao giờ cố gắng để chinh phục India hay Scandinavia, những người Persia đã không bao giờ cố gắng để chinh phục Madagascar hay Spain, và những người Tàu đã không bao giờ cố gắng để chinh phục Indonesia hay châu Phi. Hầu hết những nhà cai trị Tàu đã bỏ mặc ngay cả Japan gần bên, với cơ cấu của riêng nó.[17] Không có khác thường đặc biệt về điều đó. Điều kỳ lạ đó là những quốc gia châu Âu đầu thời hiện đại đã nhiễm một cơn sốt kích thích họ dong buồm đến những vùng đất xa xôi và hoàn toàn không biết, đầy những văn hóa xa lạ, nhảy một bước lên những bãi biển của chúng, và ngay lập tức long trọng loan báo: “Tôi tuyên đòi tất cả lãnh thổ này cho nhà vua của tôi!”


Hình 38. Soái thuyền của Zheng He, bên cạnh là thuyền của Columbus.


Xâm lăng từ ngoài không gian

Khoảng năm 1517, những người Spain thực dân, ở quần đảo Caribbean, bắt đầu nghe được những tin đồn mơ hồ về một đế quốc hùng mạnh đâu đó trong trung tâm đất liền Mexico. Chỉ vẻn vẹn bốn năm sau, kinh thành Aztec là một khối đổ nát bốc khói còn cháy âm ỉ, đế quốc Aztec đã là một sự kiện của quá khứ, và Hernán Cortés làm lãnh chúa một đế quốc Spain mới ở Mexico bao la.

Những người Spain đã không ngưng, dù để chúc mừng chính họ, hoặc ngay cả để lấy lại nhịp thở bình thường của họ. Họ lập tức đã bắt đầu những chiến dịch khám phá và chinh phục về mọi hướng. Những nhà cai trị trước đây của Trung Mỹ – những người Aztec, Toltecs, Maya – gần như không biết có Nam Mỹ hiện hữu, và chưa bao giờ thực hiện bất kỳ nỗ lực nào để chinh phục nó, trong suốt 2.000 năm. Tuy nhiên, trong vòng chỉ ít hơn mười năm, sau chinh phục Mexico của Spain, Francisco Pizarro đã tìm ra đế quốc Inca ở Nam Mỹ, đánh bại nó trong năm 1532.

Nếu như những người Aztec và Incas đã cho thấy quan tâm nhiều hơn một chút đến thế giới quanh họ – và nếu như họ đã biết người Spain đã làm những gì với những láng giềng của họ – họ đã có thể chống lại sự xâm lăng của Spain kiên trì và hiệu quả hơn. Trong những năm, giữa hành trình đầu tiên của Columbus đến châu Mỹ (1492) và cuộc đổ bộ của Cortés ở Mexico (1519), những người Spain đã xâm chiếm hầu hết những quần đảo vùng Caribbean, thiết lập một chuỗi những thuộc địa mới. Đối với những người bản xứ bị khuất phục, những thuộc địa này là địa ngục trần gian. Họ đã bị cai trị bằng một bàn tay sắt của những thực dân tham lam và vô đạo, những người đã nô lệ họ và đẩy họ vào làm việc trong những hầm mỏ và đồn điền, giết bất cứ ai dù chỉ một phản ứng nhỏ. Hầu hết khối cư dân bản địa chẳng bao lâu đã chết gần sạch, hoặc do những điều kiện làm việc khắc nghiệt, hoặc độc hại của những bệnh mới theo đến cùng những thuyền đổ bộ của những kẻ xâm lược. Trong vòng hai mươi năm, gần như toàn bộ dân số bản địa Caribbean bị xóa sạch. Những người Spain thực dân đã bắt đầu phải nhập cảng những phu nô lệ từ châu Phi đến, để lấp chỗ trống.

Sự diệt chủng này đã diễn ra ngay trên ngưỡng cửa của chính đế quốc Aztec, nhưng khi Cortés đổ bộ lên bờ biển phía đông của đế quốc, những người Aztec đã tuyệt không biết gì về họ. Sự kiện những người Spain đến đây đã tương đương với một cuộc xâm lăng của người hành tinh xa lạ từ ngoài không gian. Người Aztec đã chắc chắn rằng họ biết toàn thể thế giới, và rằng họ cai trị hầu hết thế giới đó. Với họ, đó đã là điều không thể tưởng tượng được rằng ngoài cương vực của họ lại có thể hiện hữu bất cứ gì giống như những người Spain này. Khi Cortés và đồng đội đặt chân lên bãi biển đầy nắng, ngày nay là của thành phố Vera Cruz, đó đã là lần đầu tiên những người Aztec gặp đám người thuộc một sắc dân không biết, hoàn toàn xa lạ.

Người Aztec đã không biết phản ứng ra sao. Họ đã có khó khăn để quyết định nếu những người lạ này là ai. Không giống như tất cả những giống người họ đã biết, những người lạ này có da trắng. Họ cũng có rất nhiều lông mặt. Một số có tóc màu mặt trời. Họ có mùi hôi khủng khiếp. (Vệ sinh của người bản địa tốt hơn rất nhiều so với của người Spain. Khi những người Spain đầu tiên đến Mexico, những người bản địa đã được chỉ định để mang những bình nhang đi theo những người Spain bất cứ nơi nào họ đi đến. Người Spain đã nghĩ đó là một dấu hiệu của sự tôn sùng linh thiêng. Chúng ta biết từ dân bản địa rằng họ đã thấy những người mới đến có mùi không thể chịu nổi.)


Bản đồ 7. Những đế quốc Aztec và Inca ở thời điểm của cuộc Chinh phục của Spain.


Văn hóa vật vất của những người xa lạ này lại còn khiến những người bản xứ nhiều bối rối hơn. Họ đến bằng những thuyền khổng lồ, giống những gì người Aztec đã không bao giờ từng tưởng tượng, chứ đừng nói đến việc đã từng nhìn thấy. Họ cỡi trên lưng những con vật to lớn và khiếp sợ, nhanh như gió. Họ có thể làm sấm và sét từ những cây gậy kim loại sáng bóng. Họ có những thanh kiếm dài lấp lánh, và áo giáp không thể xuyên thủng, chống lại chúng, những kiếm gỗ và giáo gắn đá lửa nhọn của người bản xứ đã vô dụng.

Một số người Aztec đã nghĩ rằng đây phải là những gót. Những người khác biện luận rằng họ là những quỷ thần, hay những hồn ma của những người chết, hoặc những thầy phù thủy quyền năng. Thay vì tập trung tất cả những lực lượng sẵn có và quét sạch những người Spain, người Aztec đã chần chừ cân nhắc, chậm chạp phí thì giờ, và đã thương lượng. Họ đã thấy không có lý do gì để phải vội vàng. Sau tất cả, Cortés đã có không hơn 550 người Spain với ông ta. 550 người thì có thể làm gì được với một đế quốc của hàng triệu người? [18]

Cortés dĩ nhiên, cũng như họ, không biết gì về người Aztec, nhưng ông và những người của ông, đã nắm được những lợi thế đáng kể so với những đối thủ. Trong khi những người Aztec đã không có kinh nghiệm để chuẩn bị cho sự xuất hiện của những người trông rất lạ lùng, như đến từ ngoài hành tinh, và có mùi hôi thối này, những người Spain biết rằng quả đất là đầy những khu vực gồm những người chưa biết, và không ai có chuyên môn hơn họ trong việc xâm lược những vùng đất xa lạ và đối phó với những tình thế vốn họ hoàn toàn không biết gì. Đối với những người Âu đi chinh phục hiện đại, như những nhà khoa học châu Âu hiện đại, lao đầu vào sự không biết đã là rất sôi nổi ly kỳ.

Vì vậy, khi Cortés buông neo ngoài khơi bãi biển đầy nắng đó, tháng 7 / 1519, ông đã không ngần ngừ để hành động. Giống như một người ngoài hành tinh trong truyện khoa học giả tưởng xuất hiện từ con thuyền vũ trụ của mình, ông tuyên bố với người dân địa phương kinh hoàng: “Chúng ta đến trong hòa bình. Đưa chúng ta đến người lãnh đạo của bạn.” Cortés giải thích rằng ông là một sứ giả hòa bình từ vị vua vĩ đại của Spain, và yêu cầu một cuộc tiếp xúc ngoại giao với người cai trị Aztec, Montezuma II. (Đây là một lời nói dối vô liêm sỉ. Cortés đã dẫn đầu một đoàn thám hiểm độc lập gồm những người thám hiểm tham lam. Nhà vua Spain chưa bao giờ nghe nói về Cortés, cũng như về những người Aztec.) Cortés đã được cho một vài hướng dẫn, thực phẩm và một số viện trợ quân sự từ những kẻ địch địa phương của những người Aztec. Sau đó ông tiến về phía thủ đô Aztec, thủ phủ lớn Tenochtitlan.

Người Aztec đã để những người lạ này đi trên đường đến tận kinh đô, sau đó kính cẩn dẫn người lãnh đạo của đám này đến gặp hoàng đế Montezuma. Giữa khi đang nói chuyện, Cortés ra hiệu, và những người Spain trang bị vũ khí sắt thép đã tàn sát những vệ sĩ của Montezuma (những người võ trang chỉ với những gậy gỗ, và những lưỡi đá sắc). Người khách danh dự đã bắt giữ  người chủ nhà tiếp đón mình làm người tù.

Cortés là bây giờ trong một tình thế rất tế nhị. Đã bắt được hoàng đế, nhưng Cortés bị đối phương bao vây, gồm hàng chục ngàn chiến binh giận dữ, hàng triệu thường dân thù địch, và toàn bộ một lục địa mà Cortés thực sự không biết gì cả. Ông chỉ có trong tay mình vài trăm người Spain, và lực lượng Spain tiếp viện gần nhất là ở Cuba, cách đó hơn 1.500 km.

Cortés giữ Montezuma sống như người tù trong cung điện, nhưng bề ngoài làm như thể nhà vua vẫn tự do và cai quản, và như thể người “đại sứ của Spain” đã không gì nhiều hơn là một người khách. Đế quốc Aztec là một chính thể cực kỳ tập trung, và tình thế chưa từng có này làm nó tê liệt. Montezuma tiếp tục cư xử như ông vẫn cai trị đế quốc, và tầng lớp những thiểu số chọn lọc ưu tú Aztec đã tiếp tục tuân lệnh ông, có nghĩa là họ tuân lệnh Cortés. Tình trạng này kéo dài vài tháng, trong thời gian đó Cortés tra hỏi Montezuma và những tùy tùng của nhà vua, huấn luyện những người thông dịch một số những ngôn ngữ địa phương khác biệt, và gửi những đoàn thám hiểm Spain nhỏ đi mọi hướng, để trở thành quen biết với đế quốc Aztec và những bộ lạc, những dân tộc khác biệt, và những thành phố nó cai trị.

Cuối cùng nhóm thiểu số chọn lọc ưu tú của dân Aztec nổi dậy chống lại Cortés và Montezuma, bầu một vị hoàng đế mới, và đuổi những người Spain khỏi thành Tenochtitlan. Tuy nhiên, bây giờ đã có rất nhiều vết nứt xuất hiện trong cơ cấu phức tạp của để quốc. Cortés dùng những kiến ​​thức đã đạt được để nong những vết nứt ra cho lớn hơn, và cắt đế quốc từ bên trong. Ông đã thuyết phục nhiều dân tộc bị trị của đế quốc nhập với mình chống lại lớp chọn lọc ưu tú Aztec cầm quyền. Những người bị trị đã tính sai một cách tai hại. Họ ghét những người Aztec, nhưng không biết gì về Spain, hay sự diệt chủng những người Spain đã gây ra ở quần đảo Caribbean. Họ cho rằng với sự giúp đỡ của Spain, họ có thể thoát khỏi ách cai trị của những người Aztec. Ý tưởng rằng những người Spain sẽ thế chỗ những người Aztec không bao giờ xảy ra với họ. Họ đã chắc chắn rằng nếu Cortés và vài trăm tay sai của ông này, nếu gây ra bất kỳ rắc rối nào, đều có thể bị họ áp đảo dễ dàng. Những dân nổi loạn đã cung cấp cho Cortés một đội quân gồm hàng chục ngàn quân lính người địa phương, và với sự giúp đỡ của họ, Cortés đã bao vây Tenochtitlan và đã chiếm kinh thành.

Giai đoạn này, ngày càng nhiều hơn những quân lính và những người định cư Spain bắt đầu đến Mexico, một số từ Cuba, những số khác đến thẳng từ Spain. Khi những dân chúng địa phương nhận ra những gì đã xảy ra thì đã quá muộn. Trong một thế kỷ sau cuộc đổ bộ ở Vera Cruz, số cư dân bản địa châu Mỹ đã rút xuống, chỉ còn rất ít, đã mất khoảng 90 phần trăm, chủ yếu do những bệnh mới lạ đã đến châu Mỹ cùng những người xâm lược. Những người bản địa sống sót thấy chính họ dưới sự kiểm soát và điều khiển của một chế độ tham lam và kỳ thị chủng tộc, còn tồi tệ hơn nhiều so với những người Aztec.

Mười năm sau khi Cortés đặt chân lên Mexico, Pizarro đã đến bờ biển của đế quốc Inca. Ông có rất ít binh sĩ, còn ít hơn cả của Cortés – đoàn viễn chinh của ông chỉ có 168 người! Tuy nhiên, Pizarro đã được hưởng lợi từ tất cả những kiến ​​thức và kinh nghiệm thu được trong những xâm lăng trước đó. Những người Inca, ngược lại, tuyệt không biết gì về số phận của những người Aztec. Pizarro đã lấy cắp ý tưởng của Cortés. Ông tuyên bố mình là một sứ giả hòa bình của vua Spain, mời vua Inca, Atahualpa, đến một cuộc nói chuyện ngoại giao, và sau đó bắt cóc nhà vua. Pizarro tiếp tục hành trình chinh phục một đế quốc đã tê liệt, với sự giúp đỡ của những đồng minh địa phương. Nếu những dân tộc bị trị của đế quốc Inca biết số phận của những người ở Mexico, họ tất đã không ném hết số phận của họ vào tay những người xâm lược. Nhưng họ đã không biết.

Những dân tộc bản địa châu Mỹ không phải là những người duy nhất phải trả một giá đắt cho nhãn quan địa phương hạn hẹp của họ. Những đế quốc vĩ đại của châu Á – Ottoman, Safavid ở Persai, Mughal ở India, và Tàu – rất nhanh chóng đã nghe rằng những người Âu đã tìm ra được một gì đó rất lớn. Tuy nhiên, họ cho thấy ít quan tâm đến những khám phá này. Họ tiếp tục tin rằng thế giới quay quanh châu Á, và không có nỗ lực nào để tranh giành với những người Âu nhằm kiểm soát châu Mỹ hoặc những đường biển mới ở Atlantic và Pacific. Ngay cả vương quốc nhỏ ở châu Âu như Scotland và Denmark cũng đã gửi một vài đoàn thám hiểm loại khám phá-và-chinh phục tới châu Mỹ, nhưng không một thám hiểm để thăm dò hay chinh phục nào đã từng gửi tới châu Mỹ từ thế giới Islam, India hay Tàu. Cường quốc không-châu Âu đầu tiên đã cố gắng gửi một đoàn thám hiểm quân sự đến châu Mỹ là Japan. Điều đó đã xảy ra vào tháng Sáu năm 1942, khi một đoàn thám hiểm của Japan đã chinh phục Kiska và Attu, hai hòn đảo nhỏ ngoài khơi bờ biển Alaska, bắt giữ 10 binh sĩ Mỹ và một con chó. Người Japan không bao giờ tiến được chút gần hơn nào nữa với đất liền châu Mỹ.

Thật khó có thể biện luận rằng những người Ottoman hay Tàu đã là quá xa, hoặc là họ thiếu khả năng kỹ thuật, kinh tế hay quân sự. Những nguồn tài lực đã gửi Zheng He từ Tàu đến Đông Phi trong những năm 1420 là đã đủ để đến được châu Mỹ. Người Tàu chẳng qua là đã không quan tâm. Bản đồ thế giới đầu tiên của Tàu cho thấy trong đó có châu Mỹ đã không được phát hành cho đến tận năm 1602 – và khi đó do một nhà truyền đạo người Âu!

Trong 300 năm, những người Âu đã vui hưởng làm chủ nhân không thể tranh cãi ở châu Mỹ và châu Đại Dương, ở biển Atlantic và Pacific. Những cuộc đấu tranh đáng kể trong những vùng đó đã chỉ là giữa những cường quốc châu Âu khác nhau. Sự giàu có và những tài nguyên những người Âu đã tích lũy cuối cùng cũng cho họ khả năng xâm lược châu Á, đánh bại những đế quốc của châu Á, và chia phần giữa họ với nhau. Khi những người Ottoman, Persia, India và Tàu tỉnh dậy và bắt đầu chú ý, nó đã quá muộn.

Chỉ trong thế kỷ XX những văn hoá không-châu Âu đã tiếp nhận một tầm nhìn toàn cầu thực sự. Đây đã là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến sự sụp đổ của quyền bá chủ của châu Âu. Thế nên, trong cuộc chiến tranh giành độc lập của Algeria (1954-1962), những du kích Algeria đã đánh bại một quân đội Pháp có lợi thế áp đảo về số lượng, kỹ thuật và kinh tế. Những người Algeria đã thắng, vì họ đã được một mạng lưới chống thực dân toàn cầu hỗ trợ, và vì họ đã tìm ra cách làm thế nào để khai thác phương tiện truyền thông trên thế giới cho vận động của họ – cũng như dư luận quần chúng ở chính nước Pháp. Sự thất trận vốn miền Bắc Việt Nam tí hon đã giáng đòn xuống khổng lồ Mỹ cũng đã dựa trên một chiến lược tương tự. Những lực lượng du kích này cho thấy rằng ngay cả những siêu cường cũng có thể bị đánh bại nếu một cuộc đấu tranh địa phương đã trở thành một vận động toàn cầu. Nó là lý thú để ngẫm nghĩ về những gì đã có thể xảy ra nếu như Montezuma đã có khả năng để vận động dư luận công chúng ở Spain, và được sự hỗ trợ từ một trong những đối thủ của Spain – như Portugal, Pháp, hay đế quốc Ottoman.

Những loài nhện hiếm và những chữ viết không đọc được

Khoa học hiện đại và những đế quốc hiện đại đều đã được một thứ cảm xúc bồn chồn không yên thúc đẩy rằng có lẽ một gì đó quan trọng chờ đợi ngoài xa kia sau đường chân trời – một gì đó mà họ tốt hơn nên khám phá và làm chủ. Tuy nhiên, sự liên kết giữa khoa học và đế quốc đã đi vào sâu hơn nhiều. Không chỉ là động lực, nhưng cũng những thực hành của những người xây dựng đế quốc đã chằng chịt ràng buộc rối rắm với của những nhà khoa học. Đối với người Âu hiện đại, xây dựng một đế quốc là một dự án khoa học, trong khi thiết lập một ngành khoa học là một dự án uy quyền nguy nga

Khi người Muslim chinh phục India, họ đã không mang theo những nhà khảo cổ để nghiên cứu theo hệ thống về lịch sử India, những nhà nhân chủng học để nghiên cứu văn hóa India, những nhà địa chất để nghiên cứu thổ nhưỡng India, hay những nhà động vật học nghiên cứu động thực vật India. Khi người Anh xâm chiếm India, họ đã làm tất cả những điều này. Ngày 10/Apr/1802, đã khởi đầu cuộc “Khảo sát Lớn của India” [19] đã được khởi động. Nó kéo dài sáu mươi năm. Với sự giúp đỡ của hàng chục ngàn người lao động, học giả và người hướng dẫn bản địa, người Anh đã cẩn thận lập bản đồ toàn bộ India, đánh dấu biên giới, đo những khoảng cách, và ngay cả lần đầu tiên tính toán chiều cao chính xác của Everest và những đỉnh núi Himalaya khác. Người Anh thăm dò những nguồn lực quân sự của những tỉnh India, và vị trí của những mỏ vàng của chúng, nhưng họ cũng gian nan, vượt khó khăn để thu thập thông tin về loài nhện hiếm của India, để lập danh mục về những loài bướm đầy màu sắc, để truy dõi những gốc cổ của những ngôn ngữ India đã bị quên mất, và để đào xới những di tích bị bỏ quên.

Mohenjo-daro đã là một trong những thành phố quan trọng hàng đầu của nền văn minh ở thung lũng sông Indus, đã phát triển thịnh vượng trong nghìn năm thứ ba TCN, và đã bị huỷ hoại vào khoảng năm 1900 TCN. Không ai trong số những người cai trị của India trước-Anh – không phải những Mauryas, cũng không những Guptas, cũng không những Sultan Delhi, cũng không triều đại những Mughal vĩ đại – đã ném một cái nhìn thứ hai trên những hoang phế này. Nhưng một khảo sát về khảo cổ của người Anh đã chú ý đến di tích này, năm 1922. Một đoàn nghiên cứu người Anh sau đó đã khai quật, và khám phá được nền văn minh vĩ đại đầu tiên của India, không người India nào từng biết trước đó.

Một thí dụ khác nói về óc tò mò khoa học của người Anh là sự mở code ẩn trong những chữ hình nêm [20]. Đây là chữ viết chính được dùng khắp Trung Đông trong gần 3.000 năm, nhưng người cuối cùng có thể đọc được nó, có thể đã chết khoảng thời gian đâu đó, trong những năm đầu của nghìn năm thứ nhất. Kể từ đó, dân chúng trong khu vực này thường xuyên gặp những chữ khắc hình nêm, trên những tượng, dinh thự, bia, di tích cổ và những chậu vỡ. Nhưng họ hoàn toàn không có một ý tưởng nào về cách đọc những nét khắc lạ, giống những vết trầy xước có góc cạnh này; và theo như chúng ta biết, họ cũng chưa bao giờ từng cố gắng. Chữ khắc hình nêm được những người Âu chú ý vào năm 1618, khi người đại sứ của Spain tại Persia đi thăm những di tích của thành Persepolis cổ, ở đó ông đã thấy những dòng chữ khắc mà không ai có thể giải thích được cho ông. Tin tức về những chữ viết không đọc được này đã lan rộng trong giới những nhà bác học châu Âu, và khơi động óc tò mò của họ. Năm 1657, những học giả châu Âu đã công bố bản dịch đầu tiên của một bản văn chữ hình nêm từ Persepolis. Ngày càng có nhiều bản dịch khác theo sau, và trong gần hai trăm năm, những học giả phương Tây đã cố gắng để mở code ẩn của chúng. Không ai thành công.

Trong những năm 1830, một sĩ quan người Anh, tên là Henry Rawlinson, đã được gửi đến Persia để giúp nhà vua (shah) xứ này đào tạo quân đội Persia theo phong cách châu Âu. Trong thời gian ông rảnh rỗi, Rawlinson đã đi thăm khắp Persia, và một ngày ông được một người hướng dẫn địa phương đưa đến một vách đá trong dãy núi Zagros, và chỉ cho ông thấy Hình Khắc trên Vách đá Behistun [21] vĩ đại. Cao khoảng 15 mét, rộng 25 mét, nó được khắc cao trên mặt vách đá, theo lệnh của vua Darius I, vào khoảng năm 500 TCN. Nó được viết bằng những chữ hình nêm, trong ba thứ tiếng: tiếng Persia cổ, tiếng Elamite và tiếng Babylon. Hình khắc trên Vách Đá này là rất quen thuộc với những người dân địa phương, nhưng không ai có thể đọc được nó. Rawlinson đã tự thuyết phục rằng nếu ông có thể mở code ẩn những bản văn đó, sẽ cho phép ông và những học giả khác có thể đọc được rất nhiều những bia ký, và những bản văn vốn vào thời điểm đó đã được tìm thấy trong vùng Trung Đông, mở một cánh cửa vào một thế giới cổ đã bị lãng quên.

Bước đầu tiên trong việc mở code ẩn của chữ viết đã là để đưa ra một bản sao chính xác để có thể gửi về châu Âu. Rawlinson đã bất chấp ngay cả cái chết để làm như vậy, leo thang cao với đến những vách đá dốc thẳng đứng để sao chép những chữ cái kỳ lạ. Ông đã thuê một số người dân địa phương để giúp ông, đáng chú ý nhất là một cậu bé người Kurd đã trèo đến hầu hết những phần không thể trèo đến được của vách đá, để sao chép những phần trên vòm của những ghi khắc. Năm 1847, dự án đã hoàn tất, và một bản sao đầy đủ và chính xác đã được gửi về châu Âu.

Rawlinson đã không ngưng nghỉ ngơi trên vòng laurels [22] của mình. Là một sĩ quan quân đội, ông phải thực hiện những nhiệm vụ quân sự và chính trị, nhưng bất cứ khi nào ông có chút thì giờ rảnh rỗi, ông suy nghĩ hết sức về thứ chữ viết bí mật, khó khăn này. Ông đã cố gắng thử phương pháp này đến phương pháp kia, và cuối cùng đã thành công mở code ẩn phần tiếng Persia cổ của những ghi khắc trên vách núi. Đây là đơn giản nhất, vì tiếng Persia cổ đã không khác biệt mấy so với tiếng Persia hiện đại, vốn Rawlinson biết rõ. Một hiểu biết của phần Persian cổ đã cho ông chìa khóa cần thiết để mở khóa những bí mật của những phần tiếng Elamite, và Babylon. Cánh cửa lớn mở toang, và ra đi vội vã những tiếng nói cổ xưa, nhưng sống động – những hàng quán náo nhiệt của người Sumer, những tuyên bố của những vị vua Assyrian, những lập luận của những giới chức thành Babylon. Nếu không có nỗ lực của những con người trong đế quốc châu Âu hiện đại, như Rawlinson, chúng ta sẽ không biết nhiều về số phận của những đế quốc Trung Đông thời cổ.

Một học giả khác đáng ghi nhận là William Jones. Jones đã tới India vào tháng Sep/ 1783 để phục vụ như một thẩm phán tại Tòa án tối cao của Bengal. Ông đã được những kỳ diệu của India quyến rũ say đắm, trong vòng chưa đầy sáu tháng sau khi đến nơi, ông đã thành lập Học hội châu Á. [23] Tổ chức học tập này được dành để nghiên cứu những nền văn hóa, lịch sử và xã hội của châu Á, và đặc biệt là của India. Trong vòng hai năm, Jones công bố những khảo sát của ông về ngôn ngữ Sanskrit, đi tiên phong trong khoa học về ngôn ngữ học so sánh [24].

Trong những ấn phẩm của ông, Jones đã chỉ ra sự tương đồng đáng ngạc nhiên giữa Sanskrit, ngôn ngữ India thời cổ vốn đã trở thành tiếng mẹ thiêng liêng của nghi lễ Hindu, và những ngôn ngữ của Greece và Latin, cũng như những tương đồng giữa tất cả những ngôn ngữ này và tiếng Gothic, Celtic, tiếng Persia, tiếng Germany, tiếng Pháp và tiếng Anh. Thế nên, trong Sanskrit, ‘mẹ’ là ‘matar’, trong tiếng Latin nó là ‘mater’, và trong Celtic cổ nó là ‘mathir’. Jones đã phỏng đoán rằng tất cả những ngôn ngữ này tất phải có chung một nguồn gốc, phát triển từ cùng một tổ tiên cổ, nay đã bị quên mất. Như thế, ông là người đầu tiên, ấn định những gì sau này được gọi là hệ ngôn ngữ Ấn-Âu.

Nghiên cứu của Jones là một dấu mốc quan trọng, không chỉ đơn thuần là do giả thuyết táo bạo (và chính xác) của ông, những cũng do những phương pháp theo trình tự ông đã phát triển để so sánh những ngôn ngữ. Nó đã được những học giả khác chấp nhận, khiến họ có được khả năng để nghiên cứu hệ thống sự phát triển của tất cả những ngôn ngữ trên thế giới.

Ngôn ngữ học nhận được sự hỗ trợ quyền thế nhiệt tình. Những đế quốc châu Âu tin rằng để cai trị hiệu quả, họ phải biết những ngôn ngữ và văn hóa của những đối tượng bị trị của họ. Những công chức người Anh đến India đã được cho là phải dành đến ba năm trong một trường đại học Calcutta, nơi mà họ học hỏi luật của đạo Hindu và đạo Islam bên cạnh luật của nước Anh; Sanskrit, Urdu và Persia cùng với tiếng Greece và Latin; và văn hóa tiếng Tamil, Bengali và Hindustani cùng với toán học, kinh tế và địa lý. Nghiên cứu về ngôn ngữ học cung cấp sự giúp đỡ vô giá trong việc hiểu rõ cấu trúc và ngữ pháp của những ngôn ngữ địa phương.[25]

Nhờ công việc của những người như William Jones và Henry Rawlinson, những người châu Âu xâm lược biết đế quốc của họ rất rõ. Hơn nữa, thực vậy còn hiểu rõ, hơn bất kỳ những người xâm lược tnào rước đó, hay hơn ngay cả chính dân bản xứ [26]. Tri thức vượt trội của họ có lợi thế thực tế rõ ràng. Nếu không có kiến ​​thức như vậy, có nhiều phần không xảy ra là một số rất nhỏ người Anh đã có thể thành công trong việc cai quản, đàn áp và khai thác khối đông đảo hàng trăm triệu người India, trong hai thế kỷ. Trong suốt thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, ít hơn 5.000 viên chức người Anh, khoảng 40,000-70,000 quân lính người Anh, và có lẽ thêm 100.000 những người giới kinh doanh Anh, cùng tuỳ tùng, vợ con là đủ để chinh phục và thống trị tổng số lên đến 300 triệu người India. [27]

Tuy nhiên, những lợi thế thực tiễn này đã không phải là lý do duy nhất khiến những đế quốc đã tài trợ nghiên cứu về ngôn ngữ học, thực vật học, địa lý và lịch sử. Không kém phần quan trọng đã là sự kiện rằng khoa học đã đem cho những đế quốc sự biện minh qua ý thức hệ. Người Âu hiện đại đều tin rằng có được kiến ​​thức mới là luôn luôn tốt. Sự kiện rằng những đế quốc sản xuất một dòng liên tục của tri thức mới đã dán nhãn cho chúng là những gánh vác lớn lao đầy tiến bộ và tích cực. Thậm chí ngày nay, lịch sử của những khoa học như địa lý, khảo cổ học và thực vật học không thể tránh khỏi nhắc đến công lao của những đế quốc châu Âu, ít nhất là gián tiếp. Lịch sử của thực vật học có rất ít để nói về sự đau khổ của người thổ dân Australia, nhưng thường tìm một vài lời tử tế nói về James Cook và Joseph Banks.

Hơn nữa, những kiến ​​thức mới được những đế quốc đã tích lũy bởi đã khiến có thể, ít nhất là về mặt lý thuyết, để làm lợi cho dân chúng bị chinh phục, và mang lại cho họ những lợi ích của sự “tiến bộ” – để cung cấp cho họ y tế và giáo dục, để xây dựng những tuyến đường sắt và kinh đào, để bảo đảm công bình và thịnh vượng. Những người đế quốc tuyên bố rằng đế quốc của họ không phải là những doanh nghiệp bao la của khai thác bóc lột, nhưng đúng hơn là những dự án vị tha, đã thực hiện vì lợi ích của những chủng tộc không-châu Âu – trong những lời của Rudyard Kipling, “Gánh nặng của Người Da Trắng”:

Khoác lên gánh nặng của Người Da Trắng -
Gửi tới những dòng dõi tốt nhất của bạn -
Hãy buộc những con trai bạn vào lưu vong
Để phục vụ nhu cầu của những kẻ bạn giam giữ ;
Để phục dịch trong những yên cương nặng nề,
Trên đám người xao xuyến phập phồng và man dại -
Dân chúng mặt u sầu, mới-bắt của bạn,
Nửa-quỉ ma, và nửa-con trẻ.

Dĩ nhiên, những sự kiện thường đi ngược lại huyền thoại này. Người Anh đã chinh phục Bengal, tỉnh giàu nhất India, trong 1764. Những nhà cai trị mới đã quan tâm rất ít với những gì ngoại trừ làm giàu bản thân. Họ đã thông qua một chính sách kinh tế tai hại khiến một vài năm sau đó đã dẫn đến sự bùng nổ của Nạn Đói lớn Bengal. Nó bắt đầu vào năm 1769, đạt mức độ thảm khốc trong năm 1770, và kéo dài cho đến năm 1773. Có khoảng 10 triệu người Bengal, một phần ba dân số của tỉnh, đã chết trong thảm hoạ này. [28]

Sự thực, không phải là câu chuyện của áp bức và bóc lột, cũng không phải của “Gánh nặng của Người Da Trắng” hoàn toàn thuận hợp với những sự kiện thực tại. Những đế quốc châu Âu đã làm rất nhiều những sự việc khác biệt trên một quy mô lớn rộng như vậy, khiến bạn có thể tìm thấy nhiều những thí dụ để ủng hộ bất cứ gì bạn muốn nói về chúng. Bạn nghĩ rằng những đế quốc này là tàn ác quái đản như quỉ, đã reo rắc chết chóc, áp bức và bất công trên thế giới? Bạn có thể dễ dàng lấp đầy một bộ bách khoa toàn thư với những tội ác của chúng. Bạn muốn lập luận rằng trên thực tế chúng đã cải thiện những điều kiện sinh sống của những đối tượng bị trị của chúng, với những loại thuốc mới, những điều kiện kinh tế tốt hơn, và an ninh trật tự lớn hơn? Bạn có thể lấp đầy một bộ bách khoa toàn thư khác, với những thành tựu của chúng. Nhờ vào sự hợp tác chặt chẽ với khoa học, những đế quốc này nắm giữ quá nhiều quyền lực và đã thay đổi thế giới, đến một mức độ mà có lẽ chúng có thể không chỉ giản dị được dán nhãn là tốt hay xấu. Chúng đã tạo ra thế giới như chúng ta biết nó, bao gồm cả những ý thức hệ chúng ta dùng để đánh giá chúng.

Nhưng khoa học cũng được những con người của những đế quốc đã dùng để hướng tới những mục đích u tối hơn. Những nhà sinh học, nhân chủng học và ngay cả cả những nhà ngôn ngữ đã được cung cấp bằng chứng khoa học rằng người Âu là vượt trên tất cả những chủng tộc khác, và do đó có quyền (nếu không có lẽ, là nhiệm vụ) để cai trị họ. Sau khi William Jones lập luận rằng tất cả những ngôn ngữ Ấn-Âu bắt nguồn từ một ngôn ngữ sơ khai duy nhất, nhiều học giả đã háo hức để khám phá xem ai dân tộc nào là những người đã từng nói ngôn ngữ đó. Họ nhận thấy rằng những người nói tiếng Sanskrit sớm nhất, là những người từ Trung Á đã xâm chiếm India hơn 3.000 năm trước, họ đã tự gọi mình là Arya. Những người nói tiếng Persia đầu tiên, đã tự gọi mình là Airiia. Những học giả châu Âu do đó phỏng đoán rằng những người nói ngôn ngữ nguyên thủy, vốn đã sinh ra cả Sanskrit lẫn tiếng Persia (cũng như Greek, Latin, Gothic và Celtic) đã phải tự gọi mình là người Aryan. Nó có thể là một trùng hợp ngẫu nhiên hay không nếu những người đã sáng lập những văn minh tuyệt vời của India, Persia, Greece và Rome, đều tất cả là những người Aryan?

Tiếp theo, những học giả người Anh, Pháp và Germany đã kết hôn lý thuyết ngôn ngữ về những người Aryan siêng năng cần mẫn khéo kỹ thuật, với thuyết chọn lọc tự nhiên của Darwin, và nêu lên rằng những Aryan đã không chỉ là một nhóm ngôn ngữ, nhưng cũng là một thực thể sinh học – một chủng tộc. Và không chỉ một chủng tộc bất kỳ nào, nhưng một chủng tộc sinh ra để làm chủ, vóc dáng cao, tóc vàng, mắt xanh, làm việc chăm chỉ, và là những con người hết sức duy lý trí, là giống người đã nổi lên từ sương mù bắc Âu, để đặt những nền tảng cho văn hóa trên toàn thế giới. Đáng tiếc, người Aryan đã xâm chiếm India và Persia, đã kết hôn với người bản xứ địa phương mà họ gặp trong những vùng đất này, mất đi màu da trắng và mái tóc vàng, và mất cùng với chúng óc duy lý và tính cần mẫn của họ. Những nền văn minh India và Persia sau đó như thế đã suy tàn. Tại châu Âu, mặt khác, những người Aryan đã gìn giữ được sự thuần chủng của họ. Đây là lý do khiến những người Âu đã thành công trong sự chinh phục thế giới, và tại sao họ thích hợp với việc cai trị thế giới – miễn là họ phải cẩn thận đề phòng, đừng để pha trộn với những chủng tộc thấp kém. 

Những thuyết kỳ thị chủng tộc loại như vậy, nổi bật và được ngưỡng mộ trong nhiều chục năm, đã trở thành lời nguyền rủa như nhau giữa những nhà khoa học và chính trị. Con người tiếp tục tiến hành một cuộc đấu tranh anh dũng chống sự kỳ thị chủng tộc mà không nhận thấy rằng cục diện mặt trận đã thay đổi, và rằng chỗ đứng của kỳ thị chủng tộc trong tư tưởng đế quốc hiện đã được thay thế bằng “kỳ thị văn hoá”.[29] Không có từ ngữ như vậy, nhưng đã đến lúc chúng ta ghép đặt ra nó. Trong giới chọn lọc ưu tú của thời nay, những khẳng định về những giá trị tương phản của những nhóm người khác biệt, gần như luôn luôn diễn đạt về sự khác biệt lịch sử giữa những nền văn hóa, chứ không phải là sự khác biệt sinh học giữa những chủng tộc. Chúng ta không còn nói, “Nó ở trong máu của họ.” Chúng ta nói, “Đó là trong văn hóa của họ.”

Thế nên, những đảng cánh hữu châu Âu, vốn phản đối sự nhập cư của những người Muslim, thường cẩn thận để tránh nhắc đến từ ngữ kỳ thị chủng tộc. Những người soạn diễn văn của Marine le Pen [30] sẽ bị tống ra cửa, ngay tại chỗ, nếu họ đề nghị lãnh tụ của Mặt trận Quốc gia lên truyền hình để tuyên bố rằng, “Chúng ta không muốn những dân Semite thấp hèn đó pha loãng máu Aryan của chúng ta, và làm hư hoại văn minh Aryan của chúng ta.” [31] Thay vào đó, Mặt trận Quốc gia Pháp, Đảng Dutch cho Tự do, Liên minh vì Tương lai của Austria, và những gì giống như họ, có khuynh hướng biện luận rằng văn hóa phương Tây, như nó đã tiến hoá ở châu Âu, được đặc trưng bởi những giá trị dân chủ, khoan dung và bình đẳng giới tính, trong khi đó văn hóa Muslim, đã tiến hoá ở Trung Đông, được đặc trưng bởi chính trị phân chia thứ bậc, óc cuồng tín, và ghét phái nữ. Bởi hai nền văn hóa rất khác biệt, và bởi nhiều người nhập cư Muslim không muốn (và có lẽ không thể) tiếp nhận những giá trị của phương Tây, họ không nên được cho phép nhập cư, kẻo họ kích động những xung đột nội bộ, và ăn mòn nền dân chủ và chủ nghĩa tự do của châu Âu.

Những luận chứng của những người kỳ thị văn hoá như vậy được thêm chất nuôi dưỡng bằng những nghiên cứu khoa học, trong khoa học nhân văn và khoa học xã hội, vốn nhấn mạnh nổi bật vào những gì được gọi là sự đụng độ của những nền văn minh, và sự khác biệt nền tảng giữa những văn hóa khác biệt. Không phải tất cả những nhà sử học và nhân chủng học đều chấp nhận những lý thuyết này, hay ủng hộ những xử dụng chính trị của chúng. Nhưng trong khi những nhà sinh học ngày nay có một thời gian dễ dàng từ bỏ sự kỳ thị chủng tộc, giản dị là sự giải thích rằng khác biệt sinh học giữa những quần thể con người ngày nay là rất  nhỏ nhặt, nó là khó khăn hơn cho những nhà sử học và nhân chủng học để khước từ kỳ thị văn hoá. Sau tất cả, nếu sự khác biệt giữa những văn hóa của con người là nhỏ nhặt tầm thường, tại sao chúng ta phải trả công cho những nhà sử học và nhân chủng học để nghiên cứu chúng?

Những nhà khoa học đã cung cấp cho những dự án đế quốc với kiến ​​thức thực tiễn, biện minh ý thức hệ và những tiện ích kỹ thuật. Nếu không có sự đóng góp này sẽ rất đáng ngờ nếu châu Âu đã có thể chinh phục được thế giới. Những người đi xâm lăng, chinh phục đã đền đáp bằng cung cấp cho những nhà khoa học những dữ liệu thông tin và sự bảo vệ, hỗ trợ tất cả những loại dự án kỳ lạ và hấp dẫn, và quảng bá cách suy nghĩ khoa học đến những góc xa xôi của quả đất. Nếu không có sự ủng hộ của đế quốc, đó là nghi ngờ liệu khoa học hiện đại đã có thể tiến rất xa. Có rất ít những lĩnh vực khoa học mà đã không bắt đầu đời sống của chúng như những bầy tôi trung thành của bành trướng đế quốc, và đã không nợ với một tỉ lệ lớn, những khám phá, sưu tập, dinh thự và kiến thức thông thái của chúng với giúp đỡ hào phóng của những sĩ quan quân đội, thuyền trưởng hải quân và những thống đốc thuộc địa.

Điều này rõ ràng không phải là toàn bộ câu chuyện. Khoa học đã được hỗ trợ của những tổ chức khác, không chỉ của những đế quốc. Và những đế quốc châu Âu đã nổi lên và đã phát triển mạnh mẽ cũng nhờ những yếu tố khác hơn khoa học. Đằng sau sự gia tăng nhanh chóng của khoa học và đế quốc, ẩn núp một sức mạnh quan trọng đặc biệt: chủ nghĩa tư bản. Nếu đã không vì những doanh nhân tìm cách kiếm tiền, Columbus tất đã không tới châu Mỹ, James Cook đã không đến Australia, và Neil Armstrong hẳn đã không bao giờ làm được bước đi ngắn đó trên mặt trăng.


Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất




[1] của một chấm đen in trên nền mặt trời
[2] James Cook (1728-1779) thuyền trưởng hải quân hoàng gia Anh, nhà thám hiểm, nhà chuyên môn bản đồ học nổi tiếng. Ông đã thực hiện nhiều thám hiểm tới những biển Pacific, Antarctic, Arctic, và vòng quanh thế giới.
Hành trình đầu tiên (1768-1771), ông đi thuyền tới Tahiti để quan sát Venus khi nó đi ngang qua giữa Quả đất và Mặt trời (để cố gắng xác định khoảng cách giữa Quả đất và Mặt trời). Trong chuyến đi này, ông cũng lập bản đồ New Zealand và Đông Australia. Thám hiểm thứ hai (1772-1775) đã đưa ông đến Antarctica và đảo Easter. Thám hiểm cuối cùng (1776-1779) với ý định tìm kiếm một đường hàng hải Tây bắc Bắc Mỹ đến châu Á. Không thành công, về đến quần đảo Sandwich (Hawaii), và ở đây ông đã bị một đám đông thổ dân giết chết, khi đang cố gắng bắt giữ một tù trưởng dân địa phương làm con tin, để đòi lại một chiếc thuyền buồm bị họ đánh cắp.
[3] [Stephen R. Bown, Scurvy: How a Surgeon, a Mariner and a Gentleman Solved the Greatest Medical Mystery of the Age of Sail (New York: Thomas Dunne Books, St. Martin’s Press, 2004); Kenneth John Carpenter, The His tory of Scurvy and Vitamin C (Cambridge: Cambridge University Press, 1986).]
[4] [James Cook, The Explorations of Captain James Cook in the Pacific, as Told by Selections of his Own Journals 1768–1779, ed. Archibald Grenfell Price (New York: Dover Publications, 1971), 16–17; Gananath Obeyesekere, The Apotheosis of Captain Cook: European Mythmaking in the Pacific (Princeton: Princeton University Press, 1992), 5; J. C. Beaglehole, ed., The Journals of Captain James Cook on His Voyages of Discovery, vol. 1 (Cambridge: Cambridge University Press, 1968), 588]
[5] Diệt chủng ở Tasmania: Tasmania là một hòn đảo núi ngoài khơi, cách bờ biển nam Australia 320 km, bởi một vùng biển nhiều bão tố, eo biển Bass. Tasmania được hình thành khoảng 10.000 năm trước, khi thời kỳ băng hà cuối cùng kết thúc, và mực nước biển trên thế giới dâng cao khoảng 130 mét, làm chìm giải đất nối liền đảo này với lục địa Australia. Khoảng 25,000 năm trước đó, những thổ dân từ ​​đông nam Australia đã băng qua giải đất này, đến định cư ở Tasmania. Người châu Âu tìm ra nó vào năm 1642, khi ấy, họ ước định có khoảng 6.000 người sống trên đảo, nguồn gốc tương tự như những thổ dân Australia. Dân trên đảo sử dụng những khí cụ thời nguyên thuỷ, cổ xưa hơn bất cứ dân tộc nào khác được biết trong thời hiện đại, họ chế tạo chỉ một vài công cụ đơn giản bằng gỗ và đá, vẫn sinh hoạt theo một kinh tế hái lượm săn bắt thời cổ, dù linh động với những thay đổi khí hậu đột ngột, và biến đổi địa hình lớn lao, đã giúp họ tồn tại, suốt 10.000 năm, nhưng không có tiếp xúc nào với thế giới bên ngoài, hoàn toàn cô lập với phần còn lại của loài người, cho đến khi người châu Âu bắt đầu đặt chân lên đảo này.
Tương tự như ở Australia, nơi hàng trăm bộ lạc thổ dân bị tiêu diệt sau khi thực dân Anh xâm chiếm lục địa này, nơi những thổ dân đã có một đời sống rất khác biệt với hàng ngàn người Anh định cư ở Australia vào đầu thế kỷ 19. Những người định cư đã thành lập những trang trại bao la, trên những gì đã từng là vùng đất nông nghiệp tập thể của những người bản địa, dẫn đến những tranh chấp, thách thức và cuối cùng phá hủy xã hội du mục của dân bản địa. Những xung đột dẫn đến những phản ứng bạo động giữa cả hai bên, tuy nhiên những người định cư đã thắng thế dễ dàng, những dân cư bản địa bị đẩy xa đến những vùng hẻo lánh hơn, khí hậu khắc nghiệt hơn, kém màu mỡ hơn. Sau một chuyến thăm Australia, Charles Darwin cho biết, “cái chết theo đuổi những người bản địa ở mọi nơi có bước chân người châu Âu.” Ông đã gặp những người châu Âu định cư trên các vùng đất săn bắn và hái lượm, và những vùng mộ địa thiêng liêng của những dân bản địa. Những người định cư châu Âu đã trục xuất người dân bản địa khỏi đất đai của họ, và trong quá trình đó, nhiều thổ dân đã bị chết vì bệnh tật, vì họ không có khả năng miễn dịch với những bệnh người châu Âu mang đến, vì đói, và vì bị săn lùng giết hại, trong một cuộc đấu tranh quyền lực vô vọng. Nói chung, người Anh, cũng như những thực dân da trắng châu Âu khác, đã nhìn những thổ dân da màu thuộc địa, như những chủng tộc thấp kém hơn, và đối xử với họ rất tàn nhẫn.
Xung đột đầu tiên giữa thổ dân Tasmania và người châu Âu là vào năm 1772, khi những thuỷ thủ người Pháp, do Marion du Fresne dẫn đầu, đã đổ bộ ngắn ngủi lên bờ biển phía đông Tasmania (Marion du Fresne bị thương ở Tasmania, và 3 tháng sau, bị thổ dân Maori giết ở quần đảo New Zealand). Hơn ba mươi năm kế tiếp, những người châu Âu thỉnh thoảng đã đến bờ biển Tasmania, và đã có những xung đột giữa các thổ dân Tasmanian và những người mới đến, những xung đột thường liên quan đến đất đai hay phụ nữ, hai đối tượng thèm muốn của những người thực dân châu Âu. Nhưng xung đột đã bùng nổ lớn rộng, chỉ sau khi người Anh thiết lập định cư vĩnh viễn trên bờ sông Derwent, Tasmania,vào tháng 9/1803, hai mươi lăm năm sau cuộc đổ bộ lên Botany Bay ở New South Wales, Australia. Trong ý định thiết lập một nền kinh tế nông nghiệp, họ đã chở đến Tasmania những tội phạm đã bị đẩy khỏi lục địa Australia vì đã phạm những tội nghiêm trọng để cung ứng nhân lực lao động, và một số lượng nhỏ những thợ săn hải cẩu, và săn cá voi, Cuộc gặp gỡ này giữa hai quần thể dân cư cực kỳ khác nhau đã là “giết người” ngay từ đầu. Xung đột chết người đầu tiên ngày nay được gọi là “Thảm sát Risdon”, đã mở đầu cho những gì lớn rộng hơn, được gọi là “chiến tranh với người da đen” diễn ra sau đó. Đến giữa năm 1820 những người Anh định cư đã toả rộng khắp đảo Tasmania, với nông nghiệp và chăn nuôi, lên cả vùng đất cao Highland Lakes. Trong khi những đại điền chủ xâm chiếm những vùng đất săn bắn công cộng của thổ dân với một nỗ lực nhằm trục xuất họ khỏi lãnh thổ sinh sống của họ, những công nhân trồng tỉa và chăn nuôi đã săn bắt những phụ nữ và trẻ em, trẻ người bản xứ, trẻ em cho nhu cầu nô lệ lao động, và phụ nữ cho nhu cầu tình dục, hoặc bằng vũ lực hoặc bằng trao đổi như hàng hóa. Đương nhiên những người Tasmania chống trả, họ đã tấn công các trang trại và nông dân, gia súc và những người chăn nuôi, giết, đốt và phá hủy bất cứ gì họ có thể. Những người Anh phản ứng mạnh mẽ và triệt để hơn. Người Anh có vũ khí nên thắng thế dễ dàng, những người Tasmania rút về chiến thuật du kích, vốn họ thành thạo ẩn nấp và phục kích trên địa hình quen thuộc của họ. Đối với những người Tasmania đầu tiên là gắng đẩy lui những người mới đến khỏi lãnh thổ của mình, nhưng với những người Anh, mục tiêu là tiêu diệt những thổ dân Tasmania. Họ bắn những người Tasmania, “như bắn chim sẻ”. Một người chăn cừu đơn độc giết 19 người Tasmania với một khẩu súng trường. Bốn người chăn cừu khác phục kích một nhóm người bản địa, giết chết 30 người, ném xác xuống vách đá ngày nay gọi là Victory Hill.
Những người Tasmania đã cố gắng chống trả, và như là một phần của nỗ lực để ngăn chặn sự leo thang chiến tranh, tháng 4/1828 thống đốc Arthur ra lệnh rằng tất cả người Tasmania phải rời khỏi những phần đất trên đảo có người châu Âu định cư. Để thực thi sắc lệnh này, chính phủ thuộc địa đã lập những “đội tuần tra” gồm những tù nhân do cảnh sát dẫn đầu. Những đội tuần tra này đã săn đuổi và giết hại những người Tasmania, vì các binh sĩ có quyền, ngay lập tức, giết bất kỳ người Tasmania nào, họ gặp trong các khu vực định cư. Sau đó, một mức giá được ấn định cho mỗi đầu người thổ dân: năm bảng Anh cho một người lớn, hai bảng cho một đứa trẻ bị bắt sống. Những đuổi bắt này đã được biết đến như là “đánh bắt người da đen”. Nó đã trở thành một công việc kinh doanh cho cả những đội tuần tra tư nhân và chính phủ. Những người xâm lược gồm những dân thuộc địa, quân đội lẫn tư nhân. Một ủy ban đã được thành lập để nghiên cứu một chính sách chính thức về vấn đề đối xử với dân bản địa. Những chọn lựa đưa ra là: (a) bắt những người bản địa và bán họ như những nô lệ, (b) đầu độc họ, và (c) dùng chó săn để săn bắt, đánh bẫy, hay bắn chết họ. Cuối cùng, ủy ban quyết định tiếp tục dùng cảnh sát đi lùng bắt và giải thưởng như trên.
Khởi đầu, số những kẻ đến định cư xâm chiếm đất đai còn thấp, nhưng đã tăng lên đến 3.000 vào năm 1818, 13.000 vào năm 1824, và 23.500 vào năm 1830, trong đó 75% là những tội nhân đã có tiền án. Cùng với sự gia tăng dân số định cư, số cừu chăn nuôi cũng tăng theo, từ con số không vào năm 1803, đến 54.000 vào năm 1816, đến một triệu vào năm 1830. Tới năm 1830 tất cả các khu vực săn bắn lớn của thổ dân đã bị xâm chiếm. Năm 1803, dân số thổ dân là khoảng 6.000, đến năm 1818 chỉ còn ít hơn 2000 người, và đến năm 1829 chỉ còn khoảng 400 người Tasmania. Vào năm 1830, George Augustus Robinson, một nhà truyền giáo đã được giao nhiệm vụ, có chính phủ thuộc địa tài trợ, để gom nhặt tất cả những dân bản địa Tasmania còn lại, và đưa họ đến tập trung trên một hòn đảo nhỏ, Flinders, 50 km phía bắc đảo Tasmania.
Robinson dù được trả công một số tiền lớn, nhưng đã hành động không phải không có thiện ý đối với những người Tasmania. Được một phụ nữ bản xứ là Truganini giúp đỡ, ông đã tập hợp được những người bản địa còn lại, trước bằng sự thuyết phục rằng số phận của họ sẽ tồi tệ hơn nếu họ không đầu hàng, và sau bằng những đe dọa dữ dội. Nhiều trong số những người này đã chết trên đường đi đến trại tập trung; chỉ một số khoảng 200 sống sót. Từ năm 1832, số người sống sót này, đã được đưa tới một nhà tù ngoài trời, tại một địa điểm gọi là Wybalenna, trên đảo Flinders, trong eo biển Bass. Ở đảo Flinders, Robinson đã tìm cách để đổi đạo, và để giáo dục “văn minh” cho những người sống sót này. Hòn đảo được điều hành tương tự như một nhà tù lộ thiên. Điều kiện sống rất khắc nghiệt, liên tục dưới gió bão, và hầu như không có nước ngọt. Trẻ em buộc phải sống tách biệt khỏi cha mẹ, để tạo điều kiện cho việc học tập theo“văn minh” của người châu Âu Kitô. Khan hiếm thức ăn dẫn đến thiếu dinh dưỡng, và bệnh tật xuất hiện, tất cả như tiếp tay vào việc giết chết những người bản địa nhanh hơn, và nhiều hơn. Đến năm 1847, như một biện pháp cắt giảm chi phí, 45 người sống sót còn lại của trại đã được chuyển về Oyster Cove, phía nam của Hobart, và đặt họ trong một trại tù vốn đã bị bỏ hoang từ lâu, vì nó luôn luôn ẩm ướt và bị mối đục khoét. Người cuối cùng, xem như thừa kế trọn vẹn huyết thống của 6000 thổ dân Tasmania mới 80 năm trước, là một phụ nữ, bà Truganini, đã qua đời ở Hobart, thủ đô Tasmania, vào năm 1876.
[6] [“Mark, Origins of the Modern World, 81.]
[7] [Christian, Maps of Time, 436.]
[8] Hussein Pasha: Đô đốc Hussein Pasha: tư lệnh hạm đội Ottoman, còn nhắc tên trong trong hải chiến Tendra, tháng 9/1790, biển Black Sea, trong chiến tranh Russia-Turk (1787-1792).
Wan Zhengse: Zheng He (1371-1433/1435 ), hay Cheng Ho (Trịnh Hòa), người Muslim (Hui), thái giám, nhà hàng hải, nhà thám hiểm, nhà ngoại giao, và đô đốc hải quân trong thời kỳ đầu nhà Minh nước Tàu. Zheng chỉ huy một đoàn tàu ngoại giao, gồm 7 chuyến đi, những năm 1405-1433, từ Tàu sang Trung Đông, theo con đường biển thương mại sẵn có, dọc theo những quốc gia trong vùng biển Đông Nam Á, Nam Á, Trung Đông, và Đông Phi.
[9] [John Darwin, After Tamerlane: The Global History of Empire Since 1405 (London: Allen Lane, 2007), 239.]
[10] [Soli Shahvar, ‘Railroads i. The First Railroad Built and Operated in Persia’, in the Online Edition of Encyclopaedia Iranica, last modified 7 April 2008, 
http://www.iranicaonline.org/articles/railroads-i; Charles Issawi, ‘The Iranian Economy 1925–1975: Fifty Years of Economic Development’, in Iran under the Pahlavis, ed. George Lenczowski (Stanford: Hoover Institution Press, 1978), 156.]
[11] Như vậy, Việt nam thời Nguyễn nằm trong trường hợp chung của Á Phi chậm tiến, chỉ trừ Nhật bản Meiji là một trường hợp ngoại lệ?
[12] East Indies
[13] Chúng ta, theo phiên âm Tàu!, với Tàu, America khi là châu Mỹ (美洲), khi là nước Mỹ (美国) như trong United States of America. Theo tôi không nên dịch những tên gọi, người hay đất, nhưng giữ tên gốc: châu America, nước U.S. Người Tàu gọi những nước láng giềng của chúng ta như Thailand, Lào, Campuchia,  Malaysia, bằng cách đặt tên cho họ, không gọi như họ tự xưng (Thái quốc, Lão qua, Cao Mên, Mã lai Tây á  - 泰国, 老挝, 高棉, 马来西亚),may mắn là chúng ta không theo Tàu!; Khi gọi tên một nước theo âm Tàu (Gia nã đại, Ái Nhĩ Lan, Mễ Tây Cơ, Á Căn Đình...) có thể có nghĩa là chúng ta, có kiến thức hạn hẹp, không trực tiếp biết về những nước đó, nhưng chỉ biết qua người Tàu, nhìn thế giới qua mắt của Tàu! Thêm nữa, nếu phiên âm, dùng phiên âm trực tiếp của chúng ta thì hay hơn ( Ca-na-da, Ai rơ lân, Méc-xi-cô, Ác-giăng-ti-na,..)
[14] Amerigo Vespucci (1454-1512) là một nhà thám hiểm người Ý, người đầu tiên nhận ra châu America tách biệt với lục địa châu Á. Châu America đã được đặt theo tên ông năm 1507, khi nhà làm bản đồ người Germany là Martin Waldseemüller, cho in bản đồ đầu tiên đã dùng tên “America” để gọi Thế giới Mới.
Trong chuyến thám hiểm đầu tiên của ông (cho Spain, 1499-1500), Vespucci là hoa tiêu dưới dưới sự chỉ huy của Alonso de Ojeda. Trong chuyến đi này, Ojeda và Vespuzci đã tìm ra những cửa sông Amazon và Orinoco ở Nam Mỹ, nhưng vẫn còn nghĩ đó là phần của châu Á. Trong chuyến thám hiểm thứ hai của ông (cho Portugal, 1501-1502 ), ông vẽ bản đồ một số bờ biển phía đông của Nam Mỹ, và khi đó, mới nhận ra nó không phải là phần của châu Á, nhưng của một Thế giới Mới.
[15] [Mark, Origins of the Modern World, 46.]
[16] [Kirkpatrick Sale, Christopher Columbus and the Conquest of Paradise (London: Tauris Parke Paperbacks, 2006), 7–13.]
[17] Chúng ta biết triều Yuan, đã từng đem quân vượt biển đánh Champa (để đánh Đại Việt ngược từ dưới phía nam lên trên), và hai lần từng sửa soạn đánh Japan (đoàn thuyền viễn chinh hai lần vượt biển đều bị bão làm gián đoạn, Điều này khiến triều Yuan sau đó phải gác bỏ nỗ lực xâm lăng. Người Japan gọi đây là những “gió thần” đã bảo vệ đất nước họ ( kamikaze). Nhưng nếu theo dòng lý luận của tác giả ở những chương trước, có thể xem đây là một ngoại lệ, và triều Nguyên (hoàng đế Mongolia) không phải là một triều đình Hán đích thực. Chúng ta có thể đồng ý với tác giả, và cũng thêm giải thích khác, tổng quát, về đế quốc Tàu. Cho đến cuối thế kỷ XIX, Tàu vẫn là một đế quốc nông nghiệp, một cường quốc về dân số, nên đế quốc này chỉ xâm lăng những nước láng giềng lân cận, trên đất liền, để chiếm đất canh nông. Họ lơ là với những hải đảo lớn lân cận của chính họ (Taiwan, Hainan) vì chúng là những đảo núi, không có đất màu thuận lợi để trồng lúa, và đó cũng là lý do, khiến họ “bỏ mặc” Japan, vì trước sau Japan là một quần đảo không có đồng bằng lớn, thiếu đất canh tác.

[18] Mục tiêu chính của cuộc chinh phục châu Mỹ của Spain, là (a) truyền bá đạo Catô và (b) tìm kiếm những nguồn tài nguyên thiên nhiên mới và những kim loại quý. Trong cuộc chinh phục thế giới mới, người Spain đã khuất phục và đánh bại những nền văn minh Inca ở Peru, Aztec ở Mexico, và nền văn minh Maya ở Yucatan. Năm 1519, Hernán Cortés từ Cuba đến Mexico, với 11 thuyền buồm, 550 người đàn ông, và 16 con ngựa – những con ngựa đầu tiên trên lục địa Mỹ. Trong vòng hai năm, những conquistadores, những kẻ chinh phục, đã nắm quyền kiểm soát vương quốc Aztec, ngày nay bao gồm Mexico và gần hết Trung Mỹ.


Ngày 13 Aug/1521, kinh thành Tenochtitlan cuối cùng rơi vào tay những conquistadores, tên gọi dành cho những người Spain xâm chiếm và huỷ hoại Mexico (và Peru sau này). Trong vòng chưa đầy hai giờ, Cortés nói là đã tàn sát sáu ngàn người đang tụ tập trong sân một đền thờ. Tất cả những quý tộc và lãnh đạo ưu tú của Aztec bị giết sạch. Vào thành phố vừa chinh phục, Cortés sau này đã viết: “Bạn không thể đặt chân xuống mà không đạp lên một xác người Indian”. Hơn 40.000 thây người thối rữa rải rác khắp thành phố vừa bị phá hủy tan hoang, và những xác chết nổi đầy trong kênh và hồ nước. Những thành phố Aztec khác ngay sau đó cũng bị tiêu huỷ, và trọn vẹn khiến tất cả những gì đứng vững trước đó đều nằm trong những đống đổ nát. Những thành phố tráng lệ và đế quốc nguy nga của nó đi đến một kết thúc thảm thương và khốc liệt.

Nếu lịch sử thời trước-Columbus của Mesoamerica (Trung Mỹ) là mờ tối, đó là vì ngay lập tức sau cuộc chinh phục, đã có một chủ ý tàn khốc là xoá sạch tất cả những chứng tích của những nền văn minh trước đó. Điền hình là nhà chăn chiên cao cấp hàng tỉnh của xứ Spain Mới (Mexico), Juan de Zumárraga, đã ra lệnh đốt cháy tất cả những thư tịch, tài liệu, bị hội nhà thờ coi là những “công trình của Ma quỷ”. Óc cuồng tín Catô trong tay những tín đồ nhiệt thành này, đã phá hủy tất cả những đền và tượng. Zumárraga báo cáo với cấp trên, vào năm 1531, rằng một mình ông đã san bằng 500 ngôi đền và phá hủy hơn 20,000 tượng thần bản địa. Những conquistadores không chỉ phá huỷ những văn minh ở Trung Mỹ, nhưng cũng bóp méo hình ảnh của chúng, qua sự tập trung vào tường thuật những chi tiết chọn lọc, vốn người Âu thời đó cho là xấu xa, và cũng phóng đại vượt quá tỷ lệ. Cụ thể, là sự giết người để hy sinh, vốn Aztec thời ấy có lẽ còn thực hành, dù mức độ phổ thông ít nhiều vẫn còn nhiều nghi ngờ; chi tiết này được nhắc và nhấn mạnh hầu như trong mọi dịp nói về người Aztec (và cho đến ngày nay), nhưng chưa bao giờ được dõi theo mắt nhìn theo thời gian của lịch sử và xã hội, để hiểu được lý do và giải thích hợp lý, trong đó có những tính chất, thuộc loại như thế, có thể được khoan thứ ít nhiều. Sự hy sinh con người không phải là không biết tới ở châu Âu và trong đế quốc Rome. Người Ki tô, có thể do tự kỷ ám thị (hàng ngày vẫn được chuyện giết người qua hình ảnh Jesus trên gái gỗ, và cũng luôn được nhắc nhở qua “bí tích thánh thể” vốn bản chất là một hiện tượng mê tín, trong đó những tín đồ uống máu, ăn thịt giáo chủ của mình để là một với vị này),  và từng có thói quen thêu dệt về người Jew và chuyện “phỉ báng máu” (blood libel). Người Spain chỉ đơn giản quên đi cho tiện lợi, cũng như cũng tiện lợi quên đi, không nhắc gì nhiều đến những hành xử tàn bạo súc vật, vô nhân đạo với những dân bản địa Trung Mỹ, dẫn đến tội ác diệt chủng và diệt văn hoá nhiều dân tộc bản địa châu Mỹ.

Sau cuộc chinh phục, hay đúng hơn xâm lược này, công việc quan trọng đầu tiên của người Spain đã là tái thiết, xoa dịu, và đổi đạo. Kinh thành Tenochtitlan đã bị cướp phá và đốt trụi, dân chúng đã bị đẩy khỏi hay trốn thoát thành phố. Trong một chính sách có chủ ý, những thực dân Spain đã quyết tâm phá hủy tất cả những gì nhắc nhở đến văn minh Aztec trong quá khứ, những viên đá vỡ từ những đền đài cũ, cũng không để yên, nhưng dùng làm vật liệu xây dựng Thành phố Mexico. Thành phố mới này và hàng trăm thị trấn đã được kiến trúc theo những đồ thị từ Spain, mỗi thị trấn có một công trường lớn, trung tâm hành chính tôn giáo, bao quanh là một mạng lưới đường phố dân cư và thương mại. Những nhà chăn chiên Catô đã đến Mexico cùng những conquistadores, không chậm trễ bắt tay ngay vào công việc ép buộc tôn giáo của họ cho những người bản địa, từ nay tất cả phải là những con chiên, phải theo một tôn giáo duy nhất là Catô. Đổi đạo hàng loạt như thế, đã thành một hiện tượng hàng ngày trong nhiều chục năm ở thuộc địa mới này. Trong sự đổi đạo cho hàng triệu người, hội nhà thờ cũng lập nhiều tu viện, và cũng xây dựng hàng chục ngàn nhà thờ mới (chỉ năm 1800, số lượng đạt 12.000 nhà thờ!), thường ở những khu vực chọn lựa, trước đây đã xem là đất thiêng liêng với những người Indian, như trên đỉnh đồi có những tháp bị phá huỷ, hay trên nền những đền thờ bị san bằng, như thế, thập giá mới của gót mới, của những kẻ chiến thắng, ngạo nghễ trên những dấu tích đã chôn vùi, của những gót cũ, của dân bị trị đã bại trận!

Sau khi Cortés chinh phục đế quốc Aztec trong vòng một năm, phải mất thêm 25 năm nữa để chinh phục đế quốc Maya trong bán đảo Yucatán. Chinh phục đế quốc Maya xong, công việc đầu tiên là tiến hành hệ thống tìm và đốt tất cả những văn bản tôn giáo ở đây, công việc này đã hữu hiệu kéo dài trong nhiều chục năm. Hai biến cố điển hình đáng ghi nhớ là (a) đốt cháy thư viện Maya ở Yucatán, nơi tập trung và gìn giữ những bản thảo cổ vô giá, năm 1562 thư viện này đã thành đống tro. (b) Cùng năm đó, Diego de Landa, một tu sĩ dòng Phanxicô đã cho lập một toà án dị giáo và đốt tất cả các bản thảo Maya, mọi loại, treong đó có ít nhất là 40 bộ sách tôn giáo quí hiếm chép tay (codices), và những tượng thần của dân bản xứ. Sự huỷ hoaị diệt văn hoá này diễn ra trong công trường Mani ở Yucatán. Những bộ sách bị đốt ở đây đều là những bản văn duy nhất, nội dung chứa đựng những gì bây giờ sẽ là tài liệu vô giá về lịch sử cổ đại, thần thoại, y học, thiên văn học, khoa học, tôn giáo và triết học của những nền văn minh Trung Mỹ. Sự tiêu hủy những biểu tượng và chữ viết tượng hình này cũng vĩnh viễn xóa sạch hiểu biết về ngôn ngữ Maya. Số phận của những người Maya cũng được định đoạt dễ dàng và nhanh chóng, Những quí tộc và giới lãnh đạo Maya đều bị giết chết, chung số phận với của quí tộc và giới lãnh đạo người Aztec, dân chúng Maya còn lại, dù không chống đối nào về chính trị, nhưng có tội còn xem dường còn nặng hơn, là giữ tín ngưỡng cổ truyền của họ, những ai nếu không chịu từ bỏ tín ngưỡng cũ, sau khi bị tra tấn khủng khiếp, đều bị đốt chết trong đám lửa. Đó có lẽ là may mắn, vì theo những ghi chép về thời này, may còn sót lại, từ những nhân chứng người Spain, thuật cách tra tấn của De Landa là treo những người Maya và buộc những tảng đá lớn vào chân họ, đánh họ bằng gậy, và nếu họ vẫn không từ bỏ những gót họ vẫn tin tưởng, họ được tắm bằng sáp nóng đang nấu chảy. Sự man rợ loại như vậy, khiến dư luận đã đi đến gọi ông về Spain, nhưng ông xoay sở trở lại thuộc địa cũ, và còn được phong chức là vị chăn chiên cao cấp hàng tỉnh đầu tiên của Yucatán. Sau đó, ông viết Relación de las cosas de Yucatán (Chi tiết về Yucatán), vô tình hay cố ý, nó đã hé lộ một số chi tiết về sinh hoạt của người Maya ở Yucatán.

Những conquistadores tìm thấy thích thú trong việc phát minh ra tất cả những loại tàn ác quái đản. Một tu sĩ người Spain, Bartolome de las Casas, trong quyển The Devastation của Indies, kể cho chúng ta một chứng kiến về các giết người bản xứ lạ lùng và cuồn tín như thế nào. Lời ông như sau:

“Trong ‘chuồng của những con chiên’ này, trong vùng đất này của những người nhu mì bị ruồng bỏ, đã có một số người Spain đến, những người ngay lập tức cư xử như những con thú hoang đói khát săn mồi, những con chó sói, hổ, sư tử đã bị bỏ đói nhiều ngày. Và người Spain đã cư xử không có cách nào khác, trong suốt bốn mươi năm qua, cho đến thời điểm hiện tại, vì họ vẫn đang hoạt động như những con thú hoang đói khát, giết hại, khủng bố, gây đau đớn, tra tấn, và tiêu diệt những dân tộc bản địa, làm tất cả điều này với những cách thức quái dị nhất, và hầu hết những phương pháp đa dạng mới nhất của sự tàn ác, đều chưa bao giờ từng nhìn thấy hoặc nghe nói về trước, và đến một mức độ như vậy, rằng ‘đảo này của Hispaniola’ một lần quá đông dân (có một dân số mà tôi ước tính là hơn ba triệu dân), hiện nay có một số dân chỉ hai trăm người. ...
Đối với đại lục rộng lớn [Mexico] ... Chúng tôi có thể ước tính rất chắc chắn, trung thực rằng trong bốn mươi năm đã trôi qua, với những hành động ghê gớm của những người Kitô, đã giết hại một cách bất công hơn mười hai triệu người đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Thật ra, tôi tin rằng không cố gắng để đánh lừa bản thân mình, rằng số người bị giết là giống như mười lăm triệu. ...
Lý do của họ để tiêu diệt và phá hủy một số lượng vô hạn những linh hồn, là những người Kitô có một mục đích cuối cùng, là để chiếm được vàng, và chất đầy lên mình, sưng vù với sự giàu có, trong một thời gian rất ngắn, và do đó có một bất động sản tăng lên đến mức thật cao, không tương xứng với công lao của họ. Nên giữ trong tâm trí rằng lòng tham vô độ của họ, và tham vọng, vĩ đại nhất từng thấy trên thế giới, là nguyên nhân của những hành xử tàn nhẫn ác độc của họ. Và cũng còn có thể, do vùng đất này quá giàu và may mắn, dân bản địa quá hiền lành và nhẫn nại, quá dễ dàng bị khuất phục, khiến những người Spain chúng ta thội không còn đối đãi với họ cao hơn so với những dã thú. Và tôi nói điều này từ kiến ​​thức của riêng tôi, về những hành vi tôi đã chứng kiến. Nhưng tôi đã không nên nói “hơn những dã thú”, nhờ ơn Gót, họ đã đối xử với những con thú còn với một vài tôn trọng; Tôi nên nói, thay vào đó, như “hơn cục phân trên công trường.” ...
Người Indian đã bắt đầu tìm cách để đẩy những người Kitô ra khỏi vùng đất của họ. ... Và những người Kitô, có ngựa, kiếm và giáo nhọn của họ, bắt đầu thực hiện những thảm sát và những tàn ác lạ lùng với họ. Họ tấn công các thị trấn và không chừa trẻ con, cũng không chừa người già, cũng không chừa phụ nữ mang thai, cũng không chừa phụ nữ đang trên giường sản phụ, không chỉ đâm họ, và chặt chân tay họ. nhưng cắt họ ra từng mảnh, như thể đối phó với những con cừu trong lò mổ. Họ đánh cá với nhau, xem ai là người, với một nhát kiếm, có thể xẻ một người đàn ông thành hai, hoặc có thể cắt đầu hay moi hết ruột ra ngoài chỉ với một mũi giáo. Họ giằng trẻ từ ngực của mẹ chúng, nắm ​​chúng bằng hai chân, và đập đầu chúng vào các vách đá cheo leo, hoặc giật lấy chúng bằng tay và ném chúng xuống các con sông, gầm lớn với tiếng cười và nói khi những đứa trẻ rơi xuống nước, “Chết sôi trong đó, đám con của ma quỷ!”. Những đứa trẻ khác họ xiên vào thanh gươm cùng với người mẹ và bất cứ ai khác là, người ngẫu nhiên gần đó. Họ làm một số dàn treo cổ, rộng bề ngang, nhưng bề cao thấp, khiến chân nạn nhân bị treo cổ chỉ gần chạm đất, họ xâu chuỗi những nạn nhân của họ thành những đám 13 người một, để tưởng nhớ đấng Cứu Chuộc của chúng ta và mười hai sứ đồ của Ngài, sau đó chất củi dưới chân những người này, đốt sống. Với những người khác họ buộc rơm, hoặc bọc toàn cơ thể của những người này trong rơm, châm lửa đốt. Với nhiều người khác nữa, tất cả những người mà họ muốn bắt sống, họ cắt đứt tay và treo chúng quanh cổ nạn nhân, nói rằng, “Đi đi, mang thông điệp đi đi”, có nghĩa là, Đem những tin tức này cho những người Indian đã bỏ trốn lên núi. Họ thường đối xử với những thủ lĩnh và quý tộc trong cách sau đây: họ làm một mạng lưới bằng những thanh gỗ mỏng xếp đan vào nhau, đặt nó trên những chạc gỗ có đầu tách đôi, sau đó trói chặt những nạn nhân vào mạng lưới và đốt một ngọn lửa cháy âm ỉ bên dưới, để chầm chậm, nóng lên từng chút một, khiến những kẻ bị giam cầm đó phải hét trong tuyệt vọng và thống khổ, linh hồn của họ phải thoát ra khỏi xác họ.”
Bartolome de las Casas cũng mô tả cửa hàng thịt, trong đó bán thịt người làm thức ăn cho chó (“Hãy cắt cho tôi một phần tư tên đốn mạt kia”, một khách hàng nói, “cho đến khi tôi có thể giết chết một vài tên cho riêng tôi”). Ông viết một chi tiết khác: “Những thuyền trưởng của những con tàu chở nô lệ, đã định hướng không cần la bàn hay bản đồ, thay vào đó, họ chỉ cần theo vết của những xác chết đang nổi đã bị ném xuống biển từ con tàu đang đi đằng trước họ. Những nhà vua bản địa được hứa hòa bình để ra hàng nhưng sau đó bị giết sạch. Có những gia đình tất cả tự treo cổ trong tuyệt vọng. Vua chiên Vatican ủy quyền cho hai vương triều (Spain và Portugal) đi chinh phục, và thậm chí nô dịch những dân ngoại đạo, gây hại cho danh tiếng của Christ.”

Một đặc tính của thuộc địa Mexico là vị trí và quyền lực của hội nhà thờ Catô, có ảnh hưởng lớn lao trên hầu như mọi lĩnh vực của đời sống. Hội nhà thờ thiết lập những bệnh viện, tu viện, và trường học trong các khu đô thị, thành lập những cơ quan thực hiện công cuộc truyền giáo trên khắp đất nước. Họ đã mở rộng sự kiểm soát của Spain trên những người bản xứ, đã thay thế văn hoá bản xứ bằng văn hóa và ngôn ngữ Spain trong khi đổi tất cả sang đạo Kitô. Ban đầu, hội nhà thờ còn bênh vực quyền lợi của dân bản địa, nhưng sau đó quay dần sang quan tâm nhiều hơn với tiền bạc. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm cải tiến sự đối xử với những dân bản địa, đơn giản như con người, trong mọi trường hợp, đều bị những chủ đất Spain phản đối dữ dội, với những chủ đất này, người bản xứ còn bị xem kém hơn những máy móc canh tác. Đến cuối thời kỳ thuộc địa, hội nhà thờ sở hữu hơn một nửa số đất đai và sự giàu có trong nước. Mặc dù thuộc địa Mexico giàu nhất trong tất cả những thuộc địa Spain, của cải của nó tập trung chỉ trong tầng lớp thiểu số chọn lọc địa phương, và thực dân ở chính quốc Spain. Dưới sự cai trị trực tiếp của Spain, Mexico bị đánh thuế nặng nề, và hoàn toàn không có quyền tự chủ. Các tầng lớp xã hội xếp đặt theo một hệ thống đẳng cấp, gồm: gachupines (người gốc Spain sống ở Mexico) trên đỉnh, tiếp theo là những criollos (crioh-yoh) hay creoles (người gốc Spain nhưng sinh ở Mexico), sau đến là dân pha trộn, mestizo, thấp nhất là khối những Indios (người gốc bản địa) và những người da đen gốc châu Phi (nô lệ nhập cảng). Tất cả những vị trí trong chính trị, hành chính cũng như trong hội nhà thờ, đều do những gachupines chiếm giữ.

[19] The Great Survey of India hay The Great Trigonometrical Survey of India
[20] decipher: chuyển, mở những code, hay những dấu hiệu, ký tự, vốn xưa có ý nghĩa nhưng nay đã mất, sang ngôn ngữ ngày nay, chữ viết ngày nay, sau khi hiểu được, và dịch được chúng.
cuneiform: chữ khắc hình nêm (cuneiformis, < Latin “cuneus” = ‘miếng gỗ/kim loại để chêm/gài cho chặt.’)
[21] Behistun Inscription
[22] Đã dịch là “nguyệt quế” (theo Tàu, dù vẫn có ý không ưa những gì của Tàu), tôi giữ chữ gốc (Latin “laurus”). Laurel (nghĩa chữ): chỉ sự tự hào nhưng cũng có ý kiêu căng. Thời Greek cổ, những người nổi tiếng thường đội một vòng laurel (vòng kết bằng lá laurel xanh) để phô trương sự nổi tiếng , cho thấy mình khác (trên/giỏi hơn) người khác. Tập tục đó là nguồn gốc của những huy chương thể thao, quân đội,....
[23] Asiatic Society
[24] comparative linguistics: ngôn ngữ học so sánh hay ngôn ngữ học đối chiếu.

[25] Tương tự, Pháp cũng mở những trường huấn luyện những nhân viên thuộc địa ở Đông Dương. Trong Saigon, Cochinchina, đầu tiên là Trường Hậu bổ - Collège des Stagiaires (do Luro phụ trách, sau chuyển giao cho Trương Vĩnh Ký, vốn là nhân viên thông dịch cho  những phái đoàn ngoại giao Pháp từ trước chiến tranh, nay được giữ chức “giáo sư ngôn ngữ Đông phương” của trường này); nhìn lại như thế để thấy toàn bộ bối cảnh những vai trò “văn hoá” vẫn được gán cho những nhân vật như Petrus Ký, .. và những giá trị những “tài liệu học thuật”, điển hình do người này soạn như: Abrégé de grammaire annamite , Voyage au Tonkin en 1876,  Guide de la conversation annamite, Phép lịch sự An Nam, Cours de la langue mandarine ou des caractères chinois , Cours d'histoire annamite , Đại Nam tam thập nhất tỉnh thành đồ, Cours de littérature annamite, Cours de géographie générale de l’Indochine, Grand Dictionnaire Annamite-Français,... đều trước và sau, tất cả chỉ dành cho những học trò của trường nói trên (Việt lẫn Pháp), đào tạo những thông ngôn và những nhân viên giúp việc cho bộ máy thống trị thuộc địa mới thiết lập.

Cũng tương tự như vậy, cần có những cái nhìn thực sự khách quan hơn nữa, về những nhân vật và những tác phẩm loại như: P. Gourou: Les Paysans du Delta tonkinois, hay L. Cadière (la Société des Missions Etrangères de Paris): Croyances et pratiques religieuses des Annamites dans les environs de Hué, ...Những tác phẩm của những nhân vật này nhắm đến một loại độc giả khác, và phục vụ những mục tiêu khác, tất cả là hiển nhiên, và cũng hiển nhiên hơn, không nhằm mục tiêu nào, dành cho độc giả nào, là của và cho và thuộc những gì bản xứ hay thuộc địa. Những hiểu biết trong Les Paysans du Delta tonkinois không đưa đến thay đổi nào trong hệ thống hành chính thuộc địa Pháp về việc, thí dụ, cải tiến quản lý hệ thống đê điều sông Hồng vốn đã có từ hàng trăm năm trước, sau 1936, năm tập sách trên xuất bản, thỉnh thoảng đê sông Hồng vẫn vỡ, vẫn gây lụt lội, vẫn mất mùa cho những vùng dân cư của nó. Trong suốt gần một trăm năm cai trị, người Pháp chỉ xây được một cây cầu sắt làm đường xe hoả độc nhất vượt sông Hồng, trong  một dự dịnh thất bại, định nối đồng bằng Tonkin với Vân nam và Quảng Châu, nhằm mở rộng thương mại với phần hẻo lánh miền nam nước Tàu (dự án nối thượng nguồn Mekong với Saigon – từ Ernest Doudart de Lagrée, thuyền trưởng, côn trùng học, người Pháp, tương đương với những khuôn mặt nửa thực dân nửa khoa học như tác giả nhắc một số người Anh nổi tiếng trên). Còn những hiểu biết, nếu có và nếu không thiên kiến, trong Croyances et pratiques religieuses des Annamites dans les environs de Hué chắc chắn trước tiên giúp những nhà truyền giáo Kitô, không phải những tín đồ Kitô mới ở thuộc địa được họ “khai sáng”, vì những người này đã bỏ những tín ngưỡng mô tả trong đó, với thái độ của người vừa thoát được gánh nặng hổ thẹn của quá khứ (nhìn như một mớ mê tín lạc hậu).
Trong những năm 1930 – tống số những người Pháp ở Đông Dương là khoảng trên dưới 40 nghìn người, và nếu tính chỉ những người Việt (không kể Lao và Cambodge) khoảng 20 triệu, như thế tỉ lệ cai trị/bị trị là 2%. Chỉ xấp xỉ 2 phần trăm, nhưng những kẻ thống trị dễ dàng đàn áp, tiêu diệt những khởi nghĩa bạo động, từ Sô Viết Nghệ Tĩnh, đến Yên bái, đến Thái nguyên, đến Yên thế. Đặc biệt, năm 1930, ở Yên bái, dùng máy chém tối tân đem sang từ Pháp, hậu thân khoa học của những dàn treo cổ hay đốt người ngoài trời thời Trung cổ châu Âu, họ ung dung gom dẫn 12 anh hùng chúng ta, hành hình ngoài trời, rồi ngạo nghễ, những thực dân và cố đạo, đứng chống ba toong nhìn những chiếc đầu rơi, trong đó có của Nguyễn thái Học, Phó đức Chính như thành tích của mình. Đây là “Máy Pháp lan sang để chém người....” sau lần chém 6 anh hùng khác ngay trước nhà giam Hoả Lò Ha nội, trong đó có Ký Con Đoàn Trần Nghiệp. Trước sau vẫn là khủng bố - giết sạch, bắt trọn, và đày ải tất cả viễn xứ. Thế nên, những người Việt được cơ hội có những kiến thức địa lý về những đất nước xa lạ đầu tiên (Guyane,, Réunion, Comores Madagascar, Tahiti,....) ắt đã phải xảy ra dưới thời đế quốc Pháp, phải là những tù nhân chính trị, hay may mắn, an ủi hơn, là những nô lệ lao động (Nouvelle Caledonie)!

[26] Người bản xứ có cần những kiến thức như thế để tự cai trị mình không?, ở lúc ấy, nơi ấy?
[27] [Edward M. Spiers, The Army and Society: 1819–1914 (London: Longman, 1980), 121; Robin Moore, ‘Imperial India, 1858–1914’, in The Oxford History of the British Empire: The Nineteenth Century, vol. 3, ed. Andrew Porter (New York: Oxford University Press, 1999), 442.]
[28] [Vinita Damodaran, ‘Famine in Bengal: A Comparison of the 1770 Famine in Bengal and the 1897 Famine in Chotanagpur’, The Medieval History Journal 10:1–2 (2007), 151.]
[29] culturism = culture + ism, tác giả đặt ra như ông nói trên, tương tự như racism = race+ ism
[30] Marine Le Pen: luật sư, chính trị gia, bà là chủ tịch Mặt trận Quốc gia (National Front) của nước Pháp
[31] Những dân tộc nói tiếng Semitic, đặc biệt chỉ những người Jew và Arab; vốn tự cho là dòng dõi của Shem, con trai trưởng của Noah (những nhân vật truyền thuyết kể trong kinh Thánh Hebrew)