Saturday, July 20, 2013

Richard Dawkins - Huyễn Tưởng Gót (02)


Huyễn Tưởng Gót
Richard Dawkins

(The God Delusion)

(tiếp theo ...)






Chương 2
Giả thuyết Gót

Tôn giáo của thời này là văn chương tiêu khiển cho thời sau.
Ralph Waldo Emerson


Gót của Cựu Ước có thể được cho là nhân vật cực kỳ khó chịu, gây tai giáng họa bất hạnh, ứng xử không thân thiện, bất cần, và thô lỗ nhất trong tất cả mọi truyện giả tưởng: kẻ ghen tuông và tự hào về điều đó, một quái vật tính tình đồng bóng, thất thường luôn muốn dành quyền kiểm soát, hiềm thù không hề biết tha thứ, nhỏ nhen, bất công, kẻ tẩy rửa sắc tộc khát máu; kẻ ghét phụ nữ, kẻ ghét đồng tính luyến ái, kẻ kỳ thị chủng tộc, kẻ giết trẻ con, kẻ diệt chủng, kẻ giết con ruột, kẻ độc hại như bệnh dịch, kẻ thích làm lớn, hoang tưởng tự đại, kẻ bạo dâm, cuồng dâm, ác dâm, thông dâm và loạn dâm, kẻ ác độc thất thường lại hay bắt nạt. Những ai trong chúng ta là người đã sớm đến trường từ thơ ấu, quen với lối của ông ta, có thể trở nên vô cảm, không còn ghê tởm những điều kể trên. Một người may mắn còn ngây thơ với cái nhìn khoáng đạt trong trắng có một nhận thức sáng rõ hơn. Randolph, con trai của Winston Churchill, do xoay sở tinh quái nào đó, vẫn còn mù tịt không biết gì về ghi chép trong kinh Thánh, cho đến khi Evelyn Waugh và một người sĩ quan đồng sự, trong một cố gắng không đi đến đâu hầu giữ cho Randolph im lặng, khi họ được bố trí cùng một trạm quân trong thời chiến tranh, đã đánh cuộc rằng Randolph sẽ không thể đọc trọn quyển kinh Thánh trong hai tuần: “Thật không may, điều đó đã không có kết cục như chúng tôi mong đợi. Randolph đã chưa bao giờ từng đọc bất cứ gì của nó trước đó, và bị cuống quít vì kinh tởm; cứ oang oang đọc những trích dẫn: “Tôi cá rằng bạn đã không biết rằng điều này là từ kinh Thánh ...”. Hoặc đơn giản chỉ vỗ mạnh vào hông mình và cười như nắc nẻ: “Chèng đéc ơi, không phải Gót thì ngu xuẩn sai bét láo khoét, nát bét như cứt hay sao!” [1]. Thomas Jefferson – ông đọc nhiều hơn – đã có cùng một ý kiến tương tự: “Gót của đạo Kitô là một hiện thể của một nhân vật khủng khiếp – tàn nhẫn, hận thù, đồng bóng thất thường và bất công”.

Tấn công một mục tiêu dễ dàng như thế là điều không công bằng. Giả thuyết về Gót không nên đứng hoặc đổ với thuyết minh dùng thí dụ cụ thể chẳng đáng yêu chút nào nhất của nó: Yahweh; cũng chẳng với khuôn mặt Kitô đối ngược vô vị tẻ nhạt kia của nó: “Jesus Dịu hiền, lành như cừu và mềm mỏng”. (Để công bằng, ngôi thứ hai nhút nhát yếu mềm như bánh nhúng sữa này là nhiều phần do những tín đồ thời Victoria của ông, hơn là chính Jesus. Có thể có bất cứ gì lại ủy mị sướt mướt buồn nôn đáng tởm nhiều hơn “Những trẻ em Kitô đều phải là / hòa nhã, biết vâng lời, tốt lành như ông”, như lời của bà C. F. Alexander [2]). Tôi không tấn công những phẩm chất đặc biệt của Yahweh, hoặc Jesus, hoặc Allah, hoặc bất kỳ một gót đặc biệt nào khác, thí dụ như Baal, Zeus hay Wotan [3]. Thay vào đó tôi sẽ định nghĩa Gót-Giả thuyết theo cách có thể được bênh vực hơn: Có hiện hữu một siêu nhân, thông minh siêu nhiên là kẻ đã chủ tâm thiết kế và tạo ra vũ trụ và tất cả mọi thứ trong nó, gồm cả chúng ta. Quyển sách này sẽ biện hộ một quan điểm lựa chọn khác: bất kỳ một thông minh sáng tạo nào, của sự phức tạp đủ để thiết kế bất cứ một gì, đi đến thành hiện hữu chỉ như sản phẩm cuối cùng của một tiến trình kéo dài của sự tiến hóa dần dần từng bước. Những trí tuệ sáng tạo, sau tiến hóa phát triển, tất yếu phải đến trễ trong vũ trụ, và do đó không thể là có trách nhiệm với sự thiết kế nó. Gót, trong ý hướng vừa định nghĩa, là một huyễn tưởng; và như những chương sau sẽ cho thấy, một huyễn tưởng hủy hoại chết người. [4]

Không ngạc nhiên, vì nó được thành lập từ những truyền thống địa phương của sự vén-lên-cho-thấy [5] riêng tư cá nhân hơn là trên chứng cớ, nên Gót Giả thuyết đi đến có trong nhiều phiên bản. Những nhà viết sử tôn giáo nhận ra một tiến trình từ những tục thờ vật linh của những bộ lạc nguyên thủy, qua đến những tôn giáo tin-nhiều-gót chẳng hạn như của dân Hylạp, Lamã và Norse (Bắc Âu), đến những tôn giáo tin-chỉ-một-gót như đạo Dothái; như Kitô và Islam, cả hai đều có nguồn từ đạo Dothái.

Tin-Nhiều-Gót – (Polytheism)

Không rõ tại sao sự thay đổi từ tôn giáo tin-nhiều-gót đến tôn giáo tin-chỉ-một-gót nên được giả định là một cải tiến đi dần đến tốt hơn và điều này là tự hiển nhiên [6]. Nhưng nó phổ biến rộng rãi – một giả định đã xúi dục Ibn Warraq (tác giả của Tại sao tôi không phải là một Muslim) sắc sảo phỏng đoán rằng tin-chỉ-một-gót rồi đến lượt nó bị số phận cuối cùng, để bị trừ thêm một gót nữa, và thành không-tin-có-gót nào. Từ điển Bách khoa toàn thư Catô bác bỏ thuyết tin-nhiều-gót và thuyết không-tin-có-gót trong cùng một hơi thở dửng dưng: “thuyết không-tin-có-gót giáo điều chính thức là tự-bác-bỏ, và chưa bao giờ trên thực tế đã giành được sự đồng ý lý trí của bất kỳ một lượng người đáng kể nào. Cũng thế, tôn giáo tin-nhiều-gót, dẫu cho dễ dàng đến đâu nó có thể bám chặt trong tưởng tượng của quần chúng bình dân, nhưng chưa bao giờ từng thỏa mãn được não thức của một con người triết học”. [7]

Tính tự cao tự tác nhất-mình-thứ-ba-mới-đến-thiên hạ quá đáng của tin-chỉ-một-gót cho đến tận gần đây đã được viết trong pháp luật về hoạt động từ thiện của cả hai nước Anh và Scotland, đối xử kỳ thị với những tôn giáo tin-nhiều-gót khi ban tư cách pháp nhân được miễn thuế, khi có sự hết sức dễ dàng cho phép những tổ chức từ thiện có đối tượng là bành trướng tôn giáo tin-chỉ-một-gót này, họ được chừa ra, không phải chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt đúng đòi hỏi như với những tổ chức từ thiện thế tục. Đó là tham vọng của tôi để thuyết phục một thành viên được kính trọng của cộng đồng Hindu ở nước Anh, hãy tiến ra và khởi lên một vụ kiện dân sự để thử nghiệm xem sự đối xử kỳ thị theo lối quí phái rởm này với tôn giáo tin-nhiều-gót (sẽ đi đến đâu).

Tốt hơn, dĩ nhiên, sẽ là cùng bãi bỏ hoàn toàn sự khuyến khích khi dùng tôn giáo như cơ sở cho tư cách được miễn thuế trong những công tác từ thiện. Những lợi ích của điều này cho xã hội sẽ là lớn lao, đặc biệt là ở nước Mỹ, nơi những nhà thờ và những thày chăn chiên chuyên giảng đạo trên tivi, có gót giày đã quá bóng nay lại thêm tiền để đánh bóng hơn nữa, tất cả đã bú mút, thốc vào họng một tổng số tiền bạc được miễn thuế lợi tức hàng năm, đạt đến mức khá có thể được mô tả như là tục tĩu bẩn thỉu. Một thày quyền biến nhanh trí có tên Oral Roberts, có lần từng nói với khán giả truyền hình của ông, rằng Gót sẽ giết ông ta, trừ khi họ cho ông 8 triệu đô la US. Hầu như không thể nào tin nổi, ấy thế mà chuyện này thành công. Miễn hết, không phải đóng thuế! Bản thân Roberts vẫn sống nhăn khỏe mạnh, cũng thế là “Đại học Oral Roberts” ở thành phố Tulsa, Oklahoma. Những tòa nhà của nó, trị giá 250 triệu đô la US, được chính Gót trực tiếp ủy nhiệm trong những lời này: “Nâng sinh viên của nhà ngươi lên để nghe được tiếng nói của Ta, để đi đến nơi nào ánh sáng của Ta thì mờ, nơi mà tiếng nói của Ta nghe nhỏ, và quyền năng chữa lành của Ta không được biết đến, thậm chí đến những ranh giới xa xôi nhất của Trái Đất. Công việc của họ sẽ vượt xa của nhà ngươi, và ta rất hài lòng về điều này”. [8]

Khi suy nghĩ lại, người Hindu đi kiện tưởng tượng của tôi rất có thể sẽ chơi quân bài “Nếu bạn không thể đánh bại họ hãy nhập bọn cùng họ”. Tôn giáo tin-nhiều-gót của ông thì không thực sự tin-nhiều-gót, nhưng là cải dạng của tin-chỉ-một-gót. Chỉ có một Gót – Gót Bhrama là vị sáng tạo, Gót Vishnu là vị bảo quản, Gót Shiva là vị hủy diệt, những gót nữ Saraswati, Laxmi và Parvati (những vợ của Brahma, Vishnu và Shiva), Gót Ganesh con voi thần, và hàng trăm những gót khác, tất cả đều chỉ là những biểu hiện khác nhau, hoặc những hiện thân khác biệt của cùng một Gót.

Những người Kitô nên phấn khởi với lý luận biện báo loại giống vậy. Những giòng sông ngập mực của thời trung cổ, chưa kể những giòng sông ngập máu, đã từng phung phí trên sự “huyền bí” của Gót Ba Ngôi, và trong sự triệt diệt những “lệch lạc”, như vụ án Arian dị giáo. Arius của thành Alexandria, trong thế kỷ thứ tư CN, đã phủ nhận rằng Jesus đã đồng bản thể [9] (tức là thuộc về cùng một thực thể hay bản chất) với Gót. Nói nhăng nói cuội thế đó có thể có nghĩa là gì, bạn có thể đương đặt câu hỏi? Thực thể ? “thực thể” gì ? Khi dùng từ “bản chất” thì bạn thực sự chính xác muốn nói gì? “Rất ít” xem dường đó là trả lời có lý phải chăng duy nhất. Thế nhưng, sự tranh chấp vì bất đồng đã phân đạo Kitô làm đôi suốt một thế kỷ, và hoàng đế Constantine đã xuống lệnh đốt tất cả những sao chép của những sách do Arius viết. Chia rẽ thế giới Kitô bằng cãi lẽ trên những vặt vãnh hết sức tủn mủn – như thế đó vẫn từng là lối của gót học.

Có phải là người ta có một Gót trong ba phần, hay có ba Gót trong một? Bách khoa toàn thư Catô đã làm vấn đề sáng lên cho chúng ta, trong một kiệt tác của lối lý luận gót học đóng kín tối mò:

Trong sự hợp nhất của Gót-ba-ngôi [10] có ba nhân vị, Cha, Con, và Thánh Thần, Ba nhân vị này thực sự khác biệt với nhau. Thế nên, trong những lời của Tín điều Athanasian: “Cha là Gót, Con là Gót, và Thánh Thần là Gót, song không có ba Gót nhưng một Gót”.[11]

Như nếu thế đã vẫn không đủ “rõ ràng”, Bách khoa toàn thư Catô trích dẫn Thánh chiên Gregory Kẻ làm Phép lạ, nhà gót học Kitô thế kỷ thứ ba: [12]

Thế nên không có gì được tạo ra, không-gì là đối tượng tùy thuộc vào một-gì khác trong Ba Ngôi: cũng chẳng có bất cứ gì mà đã được thêm vào như tưởng nó một lần đã từng không hiện hữu, nhưng đã nhập vào sau đó: Thế nên Cha đã không bao giờ từng có mà không với Con, cũng chẳng phải Con mà không với Thánh Linh: và chính cùng một Ba-Ngôi này thì mãi mãi không biến đổi và không thể thay đổi.

Dù là những “phép lạ” nào chăng nữa khiến Gregory thành có tên hiệu của ông, chúng đã không phải là những phép lạ của sự trong sáng chân thật. Những lời của ông chuyển tải hương vị đặc trưng của kẻ chủ ý che dấu cho thật đen tối nhắm đến ngu đần của môn gót học, – không giống như khoa học hay hầu hết những ngành học hỏi sâu rộng khác về con người – vốn nó không tiến được gì trong mười tám thế kỷ. Thomas Jefferson, vẫn luôn như thế, là đúng liền, khi ông nói, “nhạo báng là vũ khí độc nhất có thể đem dùng chống lại những mệnh đề không cách nào có thể hiểu được. Những ý tưởng phải là tách bạch rõ ràng trước khi lý trí có thể tác động trên chúng, và không có người nào từng có một ý tưởng tách bạch rõ ràng về gót-một-nhưng-ba này. Đây chỉ đơn giản là lời thần chú “úm ba la ra cái gì ra cái này” của những kẻ chuyên nghề đi lừa như bọn bán thuốc giả, chúng tự gọi nhau là những nhà chăn chiên của Jesus”.

Có một điều khác mà tôi không thể giữ không bình phẩm là sự tự tin tự phụ quá đáng, vênh váo ta đây quá đỗi mà những tôn giáo khẳng định những chi tiết tỉ mỉ cặn kẽ với chúng, vốn chúng là những gì họ hoặc không có, hoặc không thể có, bất kỳ bằng chứng nào. Có lẽ, nó chính là một sự kiện thực tại rằng không có bằng chứng chống đỡ cho những quan điểm gót học, dù lối nào trong cả hai, khiến nuôi dưỡng và thúc đẩy sự thù địch có đặc tính khắc nghiệt đối với những quan điểm dù chỉ hơi khác biệt một chút, đặc biệt, như nó xảy ra, trong chính lĩnh vực này của lý thuyết về gót-ba-ngôi.

Jefferson đã chất chồng thành đống nhạo báng trên lý thuyết đó, như ông nói, “Có ba vị Gót”, trong phê bình của ông về Gót học Calvin. Nhưng đặc biệt là nhánh Catô Lamã của đạo Kitô, nó đẩy đến mức lạm phát phi mã sự ve vãn cho thấy cứ quanh quẩn trở đi rồi trở lại của nó với lý thuyết tôn giáo tin-nhiều-gót. Gót Ba Ngôi là (chúng là) được Mary gia nhập, “nữ hoàng của Thiên đàng”, về tất cả là một gót-nữ nhưng chỉ còn thiếu tên gọi (là gót), bà là người chắc chắn đứng thứ hai sau Gót, như một mục tiêu của những cầu nguyện. Bàn thờ những vị gót này lại trương phình lên to hơn vì một đoàn quân gồm những thánh chiên, mà quyền lực cầu nguyện thay cho người khác đã làm cho họ, nếu không phải là những gót hạng nhì, cũng đáng công đến gần, dựa vào những chuyên môn của họ. Diễn đàn cộng đồng Catô đã có ích, khi kể danh sách 5,120 thánh chiên, [13] cùng với những lĩnh vực chuyên môn của họ, trong đó bao gồm những người bị bệnh đau bụng, những nạn nhân đã bị ngược đãi, lạm dụng, những người mắc bệnh chán không muốn ăn, những lái buôn vũ khí, những thợ rèn, những người xương bị gãy, chuyên viên kỹ thuật về bom đạn, và những người bị rối loạn đường ruột [14], đó là đánh bạo đi ra ngoài nhưng không xa hơn đến những trường hợp hết sức vô nghĩa, tào lao như cứt bò [15]. Và chúng ta phải đừng quên bốn Nhóm của những Đoàn thể Thiên thần, xếp theo chín cấp bực: Seraphim, Cherubim, Thrones, Dominion, Virtues, Powers, Principalities, Archangels (đứng đầu của tất cả những đoàn thể), và những thiên thần chỉ đơn giản là thiên thần-tầm-thường quen thuộc, gồm những “bạn bè” gần gũi nhất của chúng ta, những kẻ vẫn từng từ bao bao giờ là những Thiên thần-Canh phòng (Guardian Angels). Điều in dấu sâu đậm cho tôi về thần thoại Catô là một phần từ sự vật hào nhoáng, nhưng vô giá trị, thực sự nhạt nhẽo, vô vị; nhưng chủ yếu là sự lạnh nhạt hời hợt, không chút nồng nhiệt mà những con người này bịa lên những chi tiết khi họ giả bộ đồng ý. Nó chỉ là phát minh trơ trẽn vô liêm sỉ.

Vua chiên John Paul II đã tạo ra nhiều thánh chiên hơn tất cả những người tiền nhiệm của ông trong tất cả những thế kỷ trước, cộng lại với nhau, và ông có một ái lực đặc biệt với Trinh Nữ Maria. Những khao khát thèm muốn với lòng tin-nhiều-gót của ông đã được trưng bày đột ngột vào năm 1981, trong một mưu hại, đạn bắn vào người ông ở Rome, và sau đó, ông đã gán sự thoát nạn được sống sót của mình là do sự can thiệp của Đức Bà Fatima: “Một bàn tay người mẹ đã lái cho viên đạn đi lệch”. Người ta không thể không tự hỏi tại sao bà này lại không lái cho nó hoàn toàn đi trượt, đừng phải bắn trúng người ông. Những người khác có thể nghĩ rằng đội ngũ y khoa giải phẫu gồm những y sĩ đã mổ xẻ không ngưng tay trên người ông đến sáu tiếng đồng hồ, ít nhất họ cũng có một phần được ghi nhận công trạng, nhưng có lẽ bàn tay của họ, cũng thế, được “tay đức bà” hướng dẫn. Điểm đáng nhắc lại là nó không chỉ là “đức bà của chúng ta” theo ý kiến của ông vua chiên này, là người đã “hướng dẫn viên đạn đi lệch”, nhưng đặc biệt nhắc đến là “Đức Bà Fatima”. Có lẽ chúng ta phải giả định là còn những “đức bà” khác: Đức Bà Lourdes, Đức Bà Guadalupe, Đức Bà Medjugorje, Đức Bà Akita, Đức Bà Zeitoun, Đức Bà Garabandal và Đức Bà Knock, tât cả khi ấy đã đều đương bận rộn với những việc lặt vặt khác.

Những người Hylạp, Lamã và Viking đã đối phó như thế nào với những vấn đề phức tạp, lúng túng về tin-nhiều-gót rắc rối loại giống vậy? Có phải Venus chỉ là một tên khác của Aphrodite, hay họ là hai gót nữ của tình yêu? Có phải Thor với cái búa của ông là một thể hiện của Wotan, hay là một gót riêng biệt? Có ai bận tâm không đây? Đời sống thì quá ngắn để phí phạm vào bận tâm với sự khác biệt giữa một bịa đặt này của trí tưởng tượng với những bịa đặt khác. Sau khi đã lắc đầu ra dấu với thuyết tin-nhiều-gót để ngừa chống nếu có một chê trách về thiếu sót hay sao lãng, tôi sẽ không nói nhiều về nó. Để cho ngắn gọn, tôi sẽ đề cập đến tất cả những vị gót, dù của tôn giáo tin-nhiều-gót hay của tôn giáo tin-chỉ-một-gót, chỉ đơn giản là “Gót”. Tôi cũng có ý thức rằng Gót của Abraham (để nói cho nhẹ nhàng) là người đàn ông hung hăng, và điều này cũng thế, tôi sẽ chấp nhận như là một quy ước trong xử dụng của tôi về đại danh từ (“ông”,”ông ta”). Nhiều nhà gót học làm cho rắc rối phức tạp tuyên bố tính vô-tính, không nam không nữ của Gót, trong khi một vài nhà gót học phái đòi nữ quyền bình đẳng tìm cách chữa lại cho đúng những bất công lịch sử bằng các chỉ định gót là phụ nữ. Nhưng sau cùng tất cả, Đâu là khác biệt giữa một “bà” không hiện hữu và một “ông” không hiện hữu? Tôi cho rằng, trong sự giao nhau không có thật, đến chóng mặt, của gót học và của phái nữ đòi quyền bình đẳng, sự hiện hữu có thể thực sự là một thuộc tính ít nổi bật hơn so với giới tính.

Tôi biết rằng những nhà phê bình tôn giáo có thể bị tấn công vì không ghi nhận sự đa dạng giàu có của những truyền thống và những thế giới quan mà chúng đã từng được gọi là có tính tôn giáo. Những công trình cung cấp tài liệu thuộc ngành học-con-người, từ Golden Bough của Sir James Frazer đến Tôn giáo được Giải thích của Pascal Boyer hoặc In Gods We Trust của Scott Atran, đưa ra những tài liệu hết sức thích thú lôi cuốn về hiện tượng hết sức khác thường, kỳ lạ của mê tín dị đoan và nghi lễ tín ngưỡng. Hãy đọc những sách như vậy và sửng sốt ngạc nhiên trước sự phong phú của sự cả tin nhẹ dạ của con người.

Nhưng đó không phải là cách thức của quyển sách này. Tôi công khai chỉ trích thuyết tin tưởng vào siêu nhiên trong tất cả những dạng thức của nó, và cách hiệu quả nhất để tiến hành sẽ là tập trung về dạng thức rất có thể là quen thuộc nhất với những độc giả của tôi – dạng thức mà nó tác động một cách đe doạ nhất trên tất cả những xã hội của chúng ta. Hầu hết những độc giả của tôi đã được nuôi dưỡng trong một của ba tôn giáo “lớn” đều tin-chỉ-một-gót (bốn, nếu bạn kể đạo Mormon) của thời nay, tất cả những tôn giáo này, tự chúng có thể lần dấu ngược về một tổ phụ thần thoại là Abraham, và giữ cái gia đình truyền thống này trong trí sẽ là điều thuận tiện, suốt phần còn lại của quyển sách.

Lúc này là một khoảnh khắc tốt như bất kỳ khoảnh khắc nào, để chặn trước một lời hỏi vặn trả đũa, chắc không thể tránh khỏi với quyển sách, một trả đũa mà nếu không – chắc chắn như đêm sẽ đến sau ngày – sẽ xuất hiện trong một phê bình đọc sách đâu đó: “Gót mà Dawkins không tin vào, là một Gót mà tôi cũng chẳng hề tin. Tôi không tin vào một ông già trên trời cao với bộ râu quai nón dài trắng”. Ông già đó là một sự đánh trống lảng chẳng có dính líu gì, và bộ râu của ông thì nó cũng tẻ nhạt như nó dài. Thực vậy, đánh trống lảng, đánh lạc sự tập trung thì tồi hơn sự không liên quan dính líu. Chính sự hồ đồ làm ra ngớ ngẩn của nó là đã là được tính toán – để làm sao lãng chú ý xa lạc khỏi sự kiện rằng những gì người nói thực sự tin tưởng vào – thì không bớt ngớ ngẩn hồ đồ được đến nhiều cho lắm. Tôi biết bạn không tin vào một ông già có râu quai nón ngồi trên một đám mây, vì vậy chúng ta hãy cùng đừng thêm mất thì giờ vào chuyện đó. Tôi không tấn công bất kỳ một lối giải thích đặc biệt nào của Gót, hoặc những vị gót. Tôi đang tấn công Gót, tất cả những gót, bất cứ gì và tất cả mọi gì siêu nhiên; ở bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào họ đã từng có, hoặc sẽ được phát minh, được bịa đặt ra.


Tin-Chỉ-Một-Gót – (Monotheism)

Cái xấu điều ác độc hại nhất không nói ra ở trung tâm của văn hóa chúng ta là thuyết tin-chỉ-một-gót. Từ một văn bản thời đồ Đồng dã man gọi là Cựu Ước, ba tôn giáo phản con người đã tiến hóa – đạo Juda, đạo Kitô, và đạo Islam. Đây là những tôn giáo thờ gót-trên-trời-xanh. Chúng là, theo đúng nghĩa đen, những tôn giáo của chế độ gia trưởng – Gót là người Cha toàn năng – vì thế mới có sự ghê tởm khinh bỉ với phụ nữ kéo dài 2.000 năm trong những nước bị ảnh hưởng bởi gót-trên-trời-xanh và những đại biểu nam giới của ông ta trên mặt đất. (Gore Vidal)


Cổ xưa nhất trong ba tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, và rõ ràng là tổ tiên của cả hai còn lại, là đạo Juda (đạo Dothái): ban đầu là một tín ngưỡng bộ lạc, cuồng nhiệt sùng bái một Gót độc nhất quyết liệt khó chịu, một gót bệnh hoạn bị ám ảnh với những hạn chế tình dục, với mùi thịt sống bị đốt cháy, với sự ưu việt của chính mình trên những vị gót đối thủ, và với sự rành riêng không một ai là người ngoài của ông ta với bộ lạc trong sa mạc đã được ông ta chọn lựa. Trong thời Lamã chiếm đóng xứ Palestine, đạo Kitô đã được Paul người thành Tarsus thành lập, như một giáo phái tin-chỉ-một-gót, chi nhánh của đạo Dothái, nhưng bớt tàn nhẫn hơn, và bớt tính chất dành riêng cho dân Dothái, nên đã từ cộng đồng Dothái nó hướng ra bên ngoài tới phần còn lại của thế giới. Một vài thế kỷ sau, Muhammad và những người theo ông, cũng ở vùng Trung đông, đã quay trở lại với thuyết tin-chỉ-một-gót kiên quyết của gốc rễ Dothái, nhưng không với tính chất dành riêng của nó, và đã thành lập đạo Islam, dựa trên một quyển sách thánh mới, kinh Koran (hay Qur”an,) cộng thêm một ý thức hệ chinh phục quân sự mạnh mẽ để mở rộng lòng tin tưởng vào gót, giờ có tên gọi là Allah. Đạo Kitô, cũng thế, được lan truyền bằng thanh kiếm, trước tiên là bàn tay của dân Lamã đã nắm lấy, sau khi Hoàng đế Lamã Constantine nâng nó lên từ một giáo phái lập dị thành tôn giáo chính thức của đế quốc, sau đó là những lần Thập tự chinh, và muộn hơn nữa sau đó là những conquistadores và những xâm lăng và thực dân khác của châu Âu, cùng những đoàn truyền giáo đi kèm theo. Đối với hầu hết những mục đích của tôi, cả ba tôn giáo khởi nguồn từ Abraham có thể được coi là không phân biệt. Trừ khi có nói rõ là khác đi, tôi sẽ giữ trong đầu hầu như tất cả là đạo Kitô, nhưng chỉ vì nó là phiên bản mà tôi do tình cờ thành quen thuộc nhất. Đối với những mục đích của tôi thì sự khác biệt ít thành vấn đề hơn là sự giống nhau.Và tôi sẽ không quan tâm gì hết tất cả với những tôn giáo khác như đạo Phật hay đạo Khổng. Thật vậy, có một gì đó để nói khi bàn luận về chúng không như những tôn giáo gì hết tất cả, nhưng như những hệ thống đạo đức hay những triết lý về đời sống.

Định nghĩa đơn giản của giả thuyết Gót mà tôi đã bắt đầu với nó, phải bị lọc bớt đi rất nhiều về căn bản, nếu để nó thành phù hợp với Gót của Abraham. Ông không chỉ tạo ra vũ trụ, ông là một Gót có tính người, trú ngụ bên trong nó, hay có lẽ bên ngoài nó (dù điều đó có thể mang nghĩa gì đi nữa), sở hữu những phẩm tính con người khó chịu mà tôi đã lược nhắc đến.

Phẩm tính cá nhân, dù dễ chịu hay khó chịu, không tạo thành phần của gót đê-ít, gót-không-nhúng-tay, của Voltaire và Thomas Paine. So sánh với khuynh hướng phạm pháp nhiễu loạn tâm thần của Cựu Ước, Gót không-nhúng-tay của thế kỷ mười tám, thế kỷ Khai sáng thì hoàn toàn là một vị chí tôn lớn lao hơn: xứng đáng với sự sáng tạo vũ trụ của ông, cao vời dửng dưng với công việc con người, siêu phàm cách biệt với những suy nghĩ riêng tư và hy vọng của loài người chúng ta, tuyệt không mảy may quan tâm với “tội lỗi” rối rắm hay những thì thầm ăn năn của loài người chúng ta. Gót không-nhúng-tay là một nhà vật lý để kết thúc tất cả vật lý, là alpha và omega của những nhà toán học, tấm gương toàn mỹ tối cao thần thánh của nhà thiết kế; một kỹ sư siêu việt là người đặt định những qui luật và những hằng số của vũ trụ, điều chỉnh chúng đến tình trạng vận hành tối ưu với sự chính xác tinh tế và tiên liệu biết trước, làm phát nổ những gì ngày nay chúng ta sẽ gọi là vụ Mở Bùng Lớn Nóng (Hot Big Bang), ông đã nghỉ hưu và không bao giờ nghe biết được gì đến từ ông nữa.

Trong những thời của lòng tin tôn giáo mạnh mẽ hơn, những người theo thuyết gót-không-nhúng-tay đã bị chửi rủa vì họ bị xem là một, không thể phân biệt được với những người theo thuyết không-tin-có-gót. Susan Jacoby, trong Những người Suy tưởng tự do: Một Lịch sử chủ nghĩa thế tục ở nước Mỹ, [16] liệt kê một danh sách tuyển chọn những danh hiệu bôi bẩn đã ném vào Tom Paine tội nghiệp: “Judas phản chúa, loài bò sát, đồ lợn, chó điên, hũ chìm, rận, nửa người nửa thú, vũ phu, kẻ nói dối, và dĩ nhiên kẻ không tin tôn giáo, người vô đạo. Paine đã chết trong sự túng thiếu, bị những bạn hữu chính trị trước đây bỏ rơi (trừ Jefferson, một ngoại lệ cao thượng đáng tôn kính), quan điểm chống những người Kitô của ông đã làm họ lâm vào lúng túng ngượng ngập. Ngày nay, lĩnh vực tư tưởng đã chuyển dịch khá xa khiến những người theo thuyết gót-không-nhúng-tay có nhiều khả năng được xếp đối nghịch với những người không-tin-có-gót, và gộp họ cùng vào với những người tin-có-gót. Họ thực sự, cuối cùng tất cả, đặt tin tưởng vào một trí tuệ thông minh tối cao là kẻ đã sáng tạo ra vũ trụ.


Chủ nghĩa thế tục, những quốc phụ và tôn giáo của nước Mỹ

Là theo thông tục để cho rằng những người lập quốc của nước Mỹ Cộng hòa [17] đã là những người theo thuyết gót-không-nhúng-tay. Không có gì để nghi ngờ rằng nhiều người trong số họ đã là những người đê-ít, mặc dù đã có tranh cãi rằng số đông đảo nhất của họ có thể là những người a-thê-ít, không-tin-có-gót. Chắc chắn, những gì viết về tôn giáo của họ, trong thời của riêng họ, để lại cho tôi không chút nghi ngờ nào, rằng hầu hết trong số họ sẽ là những người không-tin-có-gót nếu trong thời chúng ta. Nhưng cho dù những quan điểm cá nhân nào đi nữa về tôn giáo của họ trong thời của riêng họ, một điều họ có chung toàn nhóm đã là những người theo chủ nghĩa thế tục, và đây là chủ đề mà tôi quay sang trong phần này, bằng bắt đầu với – có lẽ đáng ngạc nhiên – một trích dẫn từ Thượng nghị sĩ Barry Goldwater, năm 1981, rõ ràng cho thấy rằng người ứng cử viên tổng thống và anh hùng của chủ nghĩa bảo thủ nước Mỹ đã duy trì truyền thống thế tục của nền tảng của chế độ Cộng hòa, kiên quyết trung thành như thế nào:

Không có lập trường nào trên đó dân chúng hết sức không chuyển đổi được như những tin tưởng tôn giáo của họ. Không có một đồng minh nào trong một cuộc tranh luận mà người ta có thể tuyên bố mình có lại mạnh mẽ hơn được so với Jesus Kitô, hay Gót, hay Allah, hay bất cứ gì mà người ta gọi những chí tôn này. Nhưng giống như bất kỳ vũ khí mạnh mẽ nào, việc lấy tên của Gót để đại diện cho một người nên dùng dè xẻn thôi. Những phe phái tôn giáo đang phát triển trên khắp đất nước chúng ta đang không dùng ảnh hưởng tôn giáo của họ với trí tuệ khôn ngoan. Họ đang cố để buộc những người lãnh đạo chính phủ đi theo lập trường của họ 100 phần trăm. Nếu bạn không đồng ý với những nhóm tôn giáo này về một vấn đề luân lý cá biệt nào đót, họ phàn nàn, họ đe dọa bạn, hoặc sẽ mất tiền (quĩ ủng hộ) hoặc sẽ mất phiếu bầu, hoặc cả hai. Tôi thực sự phát tởm và chán ngấy với những nhà rao giảng tôn giáo thiên chính trị trên khắp đất nước này khi nói với tôi như là một công dân rằng nếu tôi muốn là một người đạo đức, tôi phải tin vào A, B, C, và D. Đúng là không biết chính họ nghĩ mình là ai đây? Và từ chỗ nào mà họ giả định đòi có được quyền để phán định những tin tưởng đạo đức của họ cho tôi? Và tôi lại càng tức giận nhiều hơn nữa như một nhà lập pháp là người cứ phải chịu mãi những đe dọa của tất cả mọi nhóm tôn giáo là những người nghĩ rằng họ có một vài quyền Gót-ban-cho để kiểm soát phiếu của tôi trong tất cả mỗi dịp điểm danh bỏ phiếu trong Thượng viện. Ngày hôm nay, tôi báo trước cho họ: Tôi sẽ chiến đấu chống họ, dưới danh nghĩa của chủ nghĩa bảo thủ, không nhường một bước nào trên đường đi tới, nếu họ cố để đặt định những xác quyết đạo đức của họ trên tất cả những công dân Mỹ,[18]

Những quan điểm tôn giáo của những nhà lập quốc nước Mỹ là mối quan tâm lớn của những nhà tuyên truyền của phái tả nước Mỹ ngày nay, họ lo lắng để thúc đẩy một phiên bản của họ về lịch sử. Trái ngược với quan điểm của họ, sự kiện thực tế là nước Mỹ đã không được thành lập như một quốc gia Kitô, đã sớm phát biểu trong những điều khoản của một hiệp ước với Tripoli, soạn thảo vào năm 1796, dưới thời George Washington, và có chữ ký của John Adams, năm 1797:

Do Chính phủ của Nước Mỹ thì không, trong bất kỳ ý nghĩa nào, được thành lập trên đạo Kitô, vì trong bản thân nó, nó không có đặc tính của sự thù địch chống lại những luật lệ, tín ngưỡng, hay sự an bình của những người Muslim; và như Nhà nước đã nói, không bao giờ đã từng bước vào bất kỳ một chiến tranh nào hoặc một hành động thù địch nào để chống lại bất kỳ quốc gia Islam nào, đó là tuyên bố của cả hai bên, rằng không lý do viện dẫn nào phát sinh từ những quan điểm tôn giáo, sẽ từng bao giờ đưa tới một gián đoạn trong sự hòa hợp hiện có giữa hai quốc gia.

Những lời mở đầu của trích dẫn này sẽ gây ra phản ứng náo động trong giới quyền thế ngày nay ở Washington. Thế nhưng, Ed Buckner chứng tỏ đã thuyết phục được rằng chúng đã không gây bất đồng chính kiến nào vào thời điểm đó, cả hai giới chính trị gia và công luận. [19]

Nghịch lý thường được ghi nhận là Nước Mỹ, đã thành lập trên chủ nghĩa thế tục, bây giờ là nước mộ đạo thái quá nhất trong thế giới Kitô, trong khi nước Anh, với một hội nhà thờ đã do quốc vương lập hiến của nó thành lập, lại là ít tôn giáo nhất trong số đó. Tôi liên tục tự hỏi tại sao có điều này, và tôi không biết tại sao. Tôi cho rằng có thể là nước Anh đã mệt mỏi với tôn giáo sau một lịch sử kinh hoàng của những bạo lực xung đột tín ngưỡng, với những người Thệphản và Catô thay phiên dành nắm tay trên và giết hại khối kia một cách hệ thống. Một gợi ý khác nảy lên từ quan sát cho rằng nước Mỹ là một quốc gia của những người di dân nhập cư. Một đồng nghiệp đã chỉ ra cho tôi rằng những người nhập cư, bật gốc từ sự ổn định và thoải mái của một đại gia đình ở châu Âu, cũng rất có thể chấp nhận một nhà thờ như là một loại thế chỗ cho thân nhân trên đất lạ nước mới. Đó là một ý tưởng thú vị đáng chú ý, đáng nghiên cứu thêm nữa. Không nghi ngờ gì rằng nhiều người Mỹ nhìn nhà thờ tại địa phương họ như là một đơn vị quan trọng của bản sắc, mà thực sự có một vài những thuộc tính của một đại gia đình.

Tuy nhiên, một giả thuyết khác là sự mộ đạo thái quá của nước Mỹ xuất phát một cách nghịch lý từ chủ nghĩa thế tục của hiến pháp của nó. Đúng là nước Mỹ thế tục trên pháp lý, tôn giáo đã trở thành doanh nghiệp trong thị trường tự do. Những hội nhà thờ kình địch tranh dành tín đồ cho giáo đoàn – ít nhất không phải chỉ vì những tiền thu góp béo bở mà họ mang lại – và sự cạnh tranh được tiến hành với tất cả những kỹ thuật giằng co chìu néo cố bán hung hăng của thị trường. Những gì làm được việc cho những mảnh xà phòng làm được việc cho Gót, và kết quả là một gì đó đi đến gần với sự cuồng dại tôn giáo giữa những tầng lớp ngày nay kém học thức. Ở nước Anh, ngược lại, tôn giáo dưới sự bảo hộ của hội nhà thờ thành lập lâu đời, đã trở thành chỉ hơi nhiều hơn một trò tiêu khiển xã hội nhàn nhã dễ chịu, khó nhận ra được như tôn giáo gì cả. Truyền thống này của dân Anh được Giles Fraser trình bày khéo léo, một cha xứ Anh giáo kiêm giảng sư triết học tại Oxford, viết trong báo Guardian. Bài viết của Fraser có phụ đề “Thể chế tổ chức của Hội nhà thờ của nước Anh đã đem Gót ra khỏi tôn giáo, nhưng cũng có những rủi ro trong một cách tiếp cận mạnh mẽ hơn với lòng tin”:

Có một thời, khi thày chăn chiên sở tại miền quê là một sản phẩm chủ yếu của những nhân vật trong kịch bản nước Anh. Nhân vật này, uống trà, lập dị vừa phải, với đôi giày bóng và cách cư xử nhã nhặn của ông, đại diện cho một thứ tôn giáo mà nó đã không làm cho những người không-tôn giáo khó chịu. Ông ta sẽ không toát mồ hôi của hiện hữu, hoặc dí bạn vào tường để hỏi nếu bạn đã được cứu rỗi chưa, lại có cơ còn ít hơn nếu khởi động những thánh chiến từ bục giảng, hoặc gài bom bên đường đi nhân danh của một vài quyền uy cao hơn. [20]

(“Cha của chúng ta” của Shades của Betjeman, mà tôi đã trích dẫn ở đầu Chương 1). Fraser nói tiếp rằng “thày chăn chiên ân cần tử tế, sở tại ở miền quê trong hiệu quả đã tiêm thuốc chủng cho những mảng lớn rộng của nước Anh ngừa chống lại đạo Kitô”. Ông kết thúc bài viết của ông với than vãn cho một khuynh hướng gần đây trong hội Nhà thờ nước Anh để lại xem tôn giáo là quan trọng một lần nữa, và câu cuối cùng của ông là một cảnh cáo: “điều lo lắng là chúng ta có thể thả ông thần của cuồng tín tôn giáo của nước Anh ra khỏi cái hộp của tổ chức thiết lập đã lâu đời, nó ngủ yên trong đó đã hàng thế kỷ”.

Ông thần của cuồng tín tôn giáo đang lan tràn trong nước Mỹ ngày nay, và những nhà lập quốc đã hẳn sẽ phải kinh hoàng. Bất kể thế nào, là đúng hay sai, để ôm lấy nghịch lý và đổ lỗi cho hiến pháp thế tục mà họ đã nghĩ ra, những người lập quốc hầu hết chắc chắn là những người theo chủ nghĩa thế tục, là những người đã tin tưởng vào việc giữ tôn giáo ngoài chính trị, và đó là đủ để đặt họ vững chắc về phía của những người, lấy thí dụ, phản đối những trưng bày phô trương rình rang Mười điều Răn trong những địa điểm công cộng thuộc về chính phủ. Nhưng đó là trêu ngươi để suy đoán rằng ít nhất một vài trong những người lập quốc đã có thể bỏ qua thuyết tin-gót-không-nhúng-tay. Có thể họ đã là những người theo thuyết không-thể-biết, hoặc ngay cả hoàn toàn trong lẫn ngoài là những người không-tin-có-gót? Tuyên bố sau đây của Jefferson thì không thể phân biệt được với những gì ngày nay chúng ta sẽ gọi là thuyết không thể biết:

Để nói chuyện về những hiện hữu phi vật chất là nói chuyện về những không-là-gì cả. Để nói rằng linh hồn con người, những thiên thần, gót, là phi vật chất, là nói rằng chúng là những không là gì, hay nói rằng không có gót, không có những thiên thần, không có linh hồn. Tôi không thể lý luận cách nào khác được... mà không lao đầu vào vực thẳm không đáy của những mộng mị và những tưởng tượng hão huyền. Tôi hài lòng, và đủ bận rộn với những sự vật mà chúng là-có, mà không hành hạ hoặc tự chuốc khó khăn cho mình về những sự vật đó mà chúng quả thực có thể là-có, nhưng với chúng tôi không có bằng chứng.

Christopher Hitchens, trong tiểu truyện Thomas Jefferson: Người dựng nước của nước Mỹ của ông, nghĩ rằng có nhiều phần Jefferson là một người không-tin-có-gót, ngay cả trong thời của riêng ông, khi điều này đã là khó khăn hơn nhiều:

Về phần không biết có phải ông là một người không-tin-có-gót hay không, chúng ta phải chừa lại đừng phán đoán, nếu như chỉ vì sự thận trọng ông đã buộc phải theo giữ trong cuộ đời chính trị của ông. Tuy nhiên, như ông đã viết cho người cháu của ông, Peter Carr, ngay sớm từ năm 1787, người ta phải đừng bị hoảng sợ khiến rời bỏ thăm dò này vì bất kỳ sợ hãi nào về những hệ quả của nó. “Nếu nó kết thúc trong một tin tưởng rằng không có Gót, anh sẽ tìm thấy những phấn chấn đến đức hạnh trong thoải mái và dệ̃ chịu thú vị anh cảm thấy trong thực tập này, và tình yêu thương với những người khác vốn nó sẽ đem cho anh”.

Tôi thấy những lời khuyên sau đây của Jefferson, một lần nữa trong thư gửi cho Peter Carr, là cảm động:

Rũ bỏ tất cả những sợ hãi của những định kiến nô lệ, những não thức yếu đuối nô lệ khúm núm co rúm dưới chúng. Đặt đúng lý trí vững chắc vào chỗ của nó, và kêu gọi giúp đỡ tới tòa án của nó về mọi sự kiện, mọi ý kiến. Hãy táo bạo đặt câu hỏi, ngay cả về sự hiện hữu của một Gót, vì nếu như có một gót, ông ta phải chấp thận sự kính trọng của lý trí hơn là của sự sợ hãi bị bịt mắt.

Những nhận xét của Jefferson loại giống như “đạo Kitô là hệ thống đồi bại hư hỏng nhất đã từng soi rọi trên con người” là tương hợp với thuyết tin-gót-không-nhúng-tay mà cũng với với thuyết không-tin-có-gót. Sự ngay thẳng mạnh mẽ chống giới chăn chiên của James Madison cũng giống như thế: “Trong thời gian gần trọn mười lăm thế kỷ, cơ cấu pháp luật của đạo Kitô đã được thiết lập và đã qua thực nghiệm. Những gì đã là hoa trái của nó? Nhiều hơn hoặc ít hơn, ở tất cả mọi nơi, là sự kiêu hãnh, và biếng nhác trong giới chăn chiên; ngu muội và tùng phục nô lệ trong giới con chiên, trong cả hai giới, là mê tín dị đoan, định kiến mù quáng cố chấp và bạo lực khủng bố”. Cũng có thể nói như thế về “Những hải đăng thì hữu ích hơn nhiều so với nhà thờ” của Benjamin Franklin, và của John Adams “Đây sẽ là thế giới tốt nhất của tất cả thế giới có thể có được, nếu như đã không có tôn giáo trong nó”. Chính Adams đã phát biểu một vài diễn văn đả kích tuyệt vời, đặc biệt chống lại đạo Kitô: “Như tôi hiểu đạo Kitô, nó đã là, và hiện là, một sự vén-lên-cho-thấy [21]. Nhưng làm sao đã xảy ra rằng hàng triệu truyện ngụ ngôn, cổ tích, truyền thuyết, đã được pha trộn với cả sự vén-lên-cho-thấy của Dothái và Kitô, khiến đã làm chúng là tôn giáo đẫm máu nhất đã từng hiện hữu?”. Và, trong một lá thư khác, lần này với Jefferson, gần như rùng mình ghê tởm trước ý tưởng của ám chỉ đến cái thí dụ gây chết chóc nhất của những lạm hành với sự buồn thương mà lịch sử nhân loại đã duy trì – cái giá gỗ chữ Thập. Hãy cân nhắc nhìn xem những gì là tai ương thảm họa mà động cơ đó của buồn thương đã sản xuất! “

Cho dù Jefferson và những đồng sự của ông đã là những người tin-có-gót, tin-gót-không-nhúng-tay, người theo thuyết không thể biết, hay người không-tin-có-gót, họ đã đều là những người nhiệt thành theo chủ nghĩa thế tục, những người tin rằng đối với một Tổng thống, ông có hay không có những quan điểm tôn giáo, hoàn toàn là chuyện riêng tư của ông ta. Tất cả những nhà sáng lập nước Mỹ, bất kể những tin tưởng tôn giáo nào họ riêng có, sẽ hẳn đều thất kinh khi đọc bài tường trình của nhà báo Robert Sherman về câu trả lời của George Bush người-bố, khi Sherman hỏi ông liệu có công nhận quyền công dân bình đẳng và lòng yêu nước của những người Mỹ nhưng là những người không-tin-có-gót: “Không, tôi không biết rằng những người không-tin-có-gót có nên được xem là những công dân, cũng không biết họ có nên được xem là người yêu nước hay không. Đây là một quốc gia dưới tay Gót” [22]. Giả định tường thuật của Sherman là chính xác (đáng tiếc là ông đã không dùng máy ghi âm, và lúc ấy, không có báo nào đăng câu chuyện vào thời điểm đó), hãy làm thí nghiệm bằng cách thay thế “không-tin-có-gót” với “người Dothái”, hay “người Muslim”, hay “người da đen”. Làm như thế sẽ đem cho mức độ của những thành kiến và đối xử kỳ thị mà những người Mỹ không-tin-có-gót phải kham chịu ngày nay. “Lời tự thú của một người không-tin-có-gót cô quạnh” của Natalie Angier, trên tờ New YorkTimes, là một mô tả buồn và cảm động về tình cảm cô quạnh của bà, thui thủi một mình vì là một người không-tin-có-gót trong nước Mỹ ngày nay[23]. Nhưng sự cô lập của những người Mỹ không-tin-có-gót là một ảo ảnh, được thành kiến vun trồng không ngưng nghỉ. Số người không-tin-có-gót ở Mỹ thì đông đảo hơn so với hầu hết mọi người nhìn nhận. Như tôi đã nói trong Lời nói đầu, những người Mỹ không-tin-có-gót vượt quá số những người theo đạo Dothái, thế nhưng những vận động chính trị hành lang của người Dothái thì ai cũng biết là một trong những ảnh hưởng ghê gớm nhất ở Washington. Những người Mỹ không-tin-có-gót có thể đạt được những gì, nếu như họ đã tự tổ chức mình cho đúng cách? [24]

David Mills, trong quyển Vũ trụ không-tin-có-gót đáng thán phục của ông, kể một câu chuyện mà bạn sẽ gạt đi như một tranh vẽ hí họa không thực về thiên kiến mù quáng của cảnh sát, như nếu nó đã là hư cấu. Một người chữa bệnh bằng lòng tin đạo Kitô đã thực hiện một dịch vụ gọi là “Thập tự chinh Phép lạ”, đã đến thị trấn của Mills một năm một lần. Trong số nhiều những thứ khác, người chữa bệnh bằng cầu nguyện này khuyến khích những bệnh nhân có bệnh tiểu đường vứt đi thuốc insulin của họ, và những bệnh nhân ung thư bỏ điều trị bằng dược hoá chất của họ, thay vào đó là cầu nguyện cho một phép lạ. Đủ sáng suốt lý trí, Mills đã quyết định tổ chức một cuộc biểu tình ôn hòa để báo cho dân chúng hãy lưu ý trước. Nhưng ông đã va vào sai lầm khi ông đến nói với cảnh sát về ý định của mình và yêu cầu cảnh sát bảo vệ ông chống lại tấn công nếu có thể xảy ra từ phía những người ủng hộ chữa bệnh bằng cầu nguyện với lòng tin Kitô. Người cảnh sát đầu tiên mà ông nói chuyện, đã hỏi, “Có phải ông sẽ phản đối “cho” hay “chống” người chữa bệnh?” (Có nghĩa là ủng hộ hay chống lại người chữa bệnh bằng cầu nguyện Kitô). Khi Mills trả lời: “Chống lại ông ta,” viên cảnh sát cho biết rằng chính mình đã xếp đặt để tham dự tuần hành và có ý định nhổ vào mặt Mills khi ông đi qua đám biểu tình của Mills.

Mills đã quyết định thử xem mình có may mắn hơn không với một người cảnh sát thứ nhì. Người này nói rằng, nếu từ đám ủng hộ chữa bệnh-bằng-lòng tin Kitô, có bất kỳ một người nào dữ dội bạo động đối mặt thách thức Mills, người cảnh sát này sẽ bắt Mills vì ông đang “cố gắng can thiệp vào việc của Gót”. Mills bỏ về nhà và đã cố gắng gọi têlêphôn đến đồn cảnh sát, với hy vọng tìm được sự cảm thông hơn với một cánh sát có cấp bực cao hơn. Ông cuối cùng đã được bắt chuyện với một trung sĩ cảnh sát, người này nói, “Tôi cóc bận tâm với ông, ông bạn ơi. Không có cảnh sát nào muốn bảo vệ một người không-tin-có-gót, thứ gót-đày-hỏa-ngục. Tôi hy vọng một ai đó choảng cho bạn một trận đổ máu thật nhiều cho nên thân vào”. Rõ ràng là những trạng từ trong đồn cảnh sát đã thiếu, đã không đủ có để cung cấp cùng với sữa ngọt của lòng tốt của con người và một ý thức trách nhiệm. Mills kể lại là ông đã nói chuyện với khoảng bảy hay tám cảnh sát ngày hôm đó. Không một ai trong số họ là giúp đỡ, và hầu hết số họ đã trực tiếp đe dọa Mills với bạo lực.

Những giai thoại về định kiến như vậy với những người không-tin-có-gót thì đầy rẫy rất nhiều, nhưng Margaret Downey, của Hội Suy tưởng tự do của Vùng đô thị Philadelphia [25], duy trì hệ thống hồ sơ của những trường hợp loại giống như thế [26]. Hệ thống dữ liệu gồm những xảy ra, được phân loại theo cộng đồng, trường học, nơi làm việc, phương tiện truyền thông, gia đình và chính phủ, bao gồm những thí dụ về sách nhiễu, mất việc làm, gia đình xa lánh, và thậm chí cả giết người [27]. Bằng chứng đã thu thập thành tài liệu của Downey về sự thù hằn và sự hiểu lầm đối với những người không-tin-có-gót làm thành điều dễ dàng để tin, quả thật vậy, rằng hầu như trong thực tế không thể nào một người không-tin-có-gót chân thực có thể thắng một cuộc bầu cử vào những chức vụ trong nhà nước ở nước Mỹ. Có 435 thành viên Hạ viện và 100 thành viên của Thượng viện. Giả định rằng phần lớn trong số 535 cá nhân này là một mẫu con người có học thức của dân chúng, đó tất cả là những con số thống kê, nhưng không thể tránh khỏi một số lượng đáng kể của những con số này phải là những người không-tin-có-gót. Họ đã phải nói dối, hay che dấu những tình cảm thực sự của mình, để có thể đắc cử. Ai có thể trách họ, nếu xem xét khối cử tri mà họ đã phải thuyết phục? Đã được đồng ý chung tất cả, rằng một thú nhận theo thuyết không-tin-có-gót có thể ngay lập tức là một tự sát chính trị cho bất kỳ ứng cử viênnào tranh chức tổng thống.

Những thực tế về không khí chính trị hiện nay ở Nước Mỹ, và những gì chúng có ý nghĩa, sẽ phải làm kinh hoàng Jefferson, Washington, Madison, Adams và tất cả những bạn bè của họ. Bất kể dù họ là người không-tin-có-gót, người theo thuyết không thể biết, người tin-gót-không-nhúng-tay, hay người Kitô, họ sẽ dội người lại trong kinh dị trước những kẻ tin vào quyền-gót [28] của đầu thế kỷ 21 trong chính quyền ở Washington,. Họ sẽ đã được chuyển quay sang những quốc phụ khác, những nhà lập quốc thế tục của India sau thuộc địa, đặc biệt là người có lòng tin tôn giáo Gandhi (“Tôi là một người Hindu, tôi một người Islam, tôi là một người Dothái, tôi là một người Kitô, tôi là một người đạo Phật !”) [29], và người không-tin-có-gót Nehru:

Cuộc trình diễn của những gì được gọi là tôn giáo, hoặc với bất kỳ mức độ nào của tổ chức tôn giáo, tại India và những nơi khác, trút đầy kinh dị vào tôi, và tôi đã thường xuyên lên án nó và đã mong ước đưa một nhát chổi quét nó cho hết sạch. Hầu như luôn luôn xem ra nó như đại diện của lòng tin tưởng đui mù, và phản ứng, giáo điều, và mù quáng cố chấp, mê tín dị đoan, sự khai thác và sự dành giữ của những quyền lợi được đảm bảo bất di bất dịch.

Định nghĩa của Nehru về nước India thế tục ước mơ của Gandhi (nó đã có thể được thực hiện, thay vì sự phân cắt đất nước của họ giữa một cuộc tắm máu vì tín ngưỡng khác biệt) gần như có thể đã bị ám ảnh bới chính bóng ma của Jefferson:

Chúng ta nói về một India thế tục.. . Một số người nghĩ rằng nó có nghĩa là một vài điều gì đó phản ngược với tôn giáo. Điều đó rõ ràng là không đúng. Những gì nó có nghĩa là một nhà nước tôn vinh tất cả những tôn giáo như nhau, và cho chúng những cơ hội bình đẳng; India có một lịch sử lâu dài của sự khoan dung tôn giáo.. . Trong một đất nước như India, trong đó có nhiều tín ngưỡng và tôn giáo, không một chủ nghĩa quốc gia thực sự nào có thể xây dựng được, ngoại trừ trên cơ sở của chủ nghĩa thế tục. [30]

Gót của những người tin-gót-không-nhúng-tay chắc chắn là một cải tiến hơn con quái vật của kinh Thánh. Thật không may, điều là khó có khả năng rằng ông hiện hữu, hoặc từng hiện hữu. Trong bất kỳ hình thức nào của giả thuyết về Gót là không cần thiết .[31] Giả thuyết Gót cũng rất gần bị bỏ đi vì những luật của khoa toán xác suất. Tôi sẽ đi đến điều đó trong Chương 4, sau khi giải quyết với những bằng chứng cáo buộc về sự hiện hữu của Gót trong Chương 3. Trong khi đó, tôi quay sang thuyết không thể biết, và những khái niệm sai lầm rằng sự hiện hữu hay không hiện hữu của Gót là một câu hỏi mãi mãi không thể chạm đến, là ngoài tầm với của khoa học.


Sự nghèo nàn của thuyết không thể biết

Con người tráng kiện của phong trào “Kitô Bắp thịt” [32] khi dài dòng “lên lớp” chúng tôi từ bục giảng của nhà nguyện trong trường học ngày xưa của tôi, đã thú nhận một cái nhìn thầm lén với những người không-tin-có-gót. Ít nhất những người này đã can đảm trong những xác quyết lạc hướng của họ. Điều mà nhà thuyết giáo này không thể chịu đựng nổi là những người theo thuyết không thể biết [33]: ủy mị sướt mướt, mềm như núm vú, nhạt như nước trà loãng, lóng ngóng như cỏ dại, những kẻ trung lập nhợt nhạt, ngồi trên hàng dậu phân ranh hai đối nghịch. Ông đã có phần đúng, nhưng với toàn bộ lý lẽ sai lầm. 


Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất 

(Jul/2013)





[1] [Mitford and Waugh (2001)]
Nguyên văn: “isn’t God a shit!” – ở đây hiểu theo lối Anh – có nghĩa là “ngu xuẩn sai bét láo khoét”; như khi nói “You're full of shit” (=anh nói toàn chuyện ngu xuẩn và láo khoét, sai bét).

[2] Cecil Frances Alexander (1823-1895): người Ireland, chuyên làm thơ cho trẻ con và viết những bài thánh ca, ca tụng Gót
[3] Tên gọi Gót của: đạo Juda (Yahweh), đạo Kitô (Jesus), đạo Islam (Allah), dân Phoenician và Canaanite, Trung Đông (Baal), dân Hylạp (Zeus) và dân bắc Âu ở bán đảo Scandinavia (Wotan, hay Odin)
[4] pernicious: gốc Latin: perniciosus = ‘destructive’ < pernicies ‘ruin,’ lấy gốc từ: nex, nec – ‘death.’
[5] revelation: vén lên cho biết; revelation: < Latin revelatio(n-), [< revelare ‘lay bare’ < reveal: < Old French revelation / reveler hay Latin revelare < re: ‘again’ (lật lên, vén lên) + velum: ‘veil.’ (tấm màn): “revelatio” (hylạp: apocalypsis)] có nghĩa là: vén màn che lên; hoặc “manifestatio” (epiphaneia), có nghĩa là: tỏ lộ. Như vậy revelation gốc Latin ”revelare” (hay past part. “revelatus”) có nghĩa đen là: “vén lên cái màn che tối”, để cho thấy, cho biết một-gì đó (chân lý, hay sự linh thiêng), trước đây vẫn dịch là mạc khải, hay mặc khải (mạc: cái màn).
Revelation: sự vén màn lên cho thấy, bảo cho biết, ở đây, tôi tạm dịch nôm na dễ hiểu là: sự vén-lên-cho-thấy. Đây là một lý thuyết đặc biệt chỉ có trong gót học Judea-Kitô: Tin tưởng rằng có hiện tượng nhận biết chân lý nhưng không qua suy luận trí tuệ, hay kinh nghiệm của con người; nhưng chỉ qua thần linh tiết lộ, được thần linh vén-lên-cho-thấy – Cái biết do sự vén-lên-cho-thấy có thể trực tiếp từ một thần linh (Gót) hay qua một tác nhân trung gian (một thiên thần). Một người có kinh nhiệm về tiếp xúc như thế với thần linh siêu nhiên, nhận được tri thức qua sự vén-lên-cho-thấy như thế, trong đạo Juda, được gọi là một tiên tri (prophet).
[6] Theo tôi, quan điểm này đã lỗi thời và sai lầm – tất cả các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng vẫn hiện diện song hành bên nhau giữa loài người. Hiện nay vẫn có những dân tộc ít người theo những tín ngưỡng vật linh khác nhau, ở rải rác khắp thế giới, và dĩ nhiên những tôn giáo đông hơn, vô thần, độc thần, đa thần, phiếm thần, vẫn tồn tại bên nhau. Thêm nữa, có những hình thức tôn giáo độc thần, nhưng nội dung không khác biệt với đa thần, chỉ trừ danh xưng (thí dụ, Kitô là một tôn giáo đa thần – trong thực tế tin có ba gót, nhưng vẫn tự giải thích chỉ tin có một gót, nhưng là “một gót ba ngôi”)
Tuy nhiên, xem dường có sự thay thế và chiếm lĩnh vị trí đông đảo ưu thắng trong xã hội, như độc thần đông hơn phiếm thần, giới hạn trong từng địa phương, quốc gia, và cũng có sự loại trừ lẫn nhau (thí dụ chính dân tộc Dothái), nhưng đó là sự loại trừ không phải đào thải; là hậu quả của chính trị. Thí dụ, sự độc tôn của những tôn giáo độc thần Abraham (Kitô và Islam), hoàn toàn dựa trên sức mạnh thế tục (đế quốc Lamã, những đế quốc thực dân châu Âu); không trên chính sức mạnh tinh thần của tôn giáo; Do chủ trương độc tôn, nắm quyền hay/và chi phối chính trị, nên dành hưởng những ưu đãi, cho phép chỉ mình nó có khả năng sống còn, phát triển cho đến chừng nào nó bám giữ được địa vị độc tôn đó. Chính thế, nên trong những quốc gia mới du nhập, nó luôn vận động theo chiều hướng này; hướng đến sự độc tôn, đòi chi phối chính trị, để mong có cơ hội mở rộng lâu dài, nếu không thế, tương lai của nó bị đe dọa, không bành trướng được, có thể suy tàn hay mai một.
[7] [http://www.newadvent.org/cathen/06608b.htm.]
[8] truyền đạo: thực sự là một hình thức của sự dành, chiếm, vẫn gọi là thực dân, – colonization: có nghĩa chính yếu là chiếm đoạt một vị trí hay lĩnh vực hoạt động não thức, trí tuệ cho sự sử dụng riêng của một người, một tập thể (appropriate a place or domain for one's own use.)
Trong từ dịch “thực dân” – “thực” nguyên có nghĩa là sinh lợi, làm cho đông đúc, nhưng trong hiểu biết phổ thông chỉ còn mang một nghĩa thông thường về chính trị – chỉ sự kiện một quốc gia này dùng vũ lực chiếm cứ hay kiểm xoát lãnh thổ của một dân tộc khác và nắm quyền cai trị, kiểm soát kinh tế, thành lập một thuộc địa (invading and taking over sovereignty of another area, which then becomes known as a colony). Đến nay có ba hình thức phổ thông quen biết trong lịch sử là thực dân chính trị, thực dân văn hóa, và thực dân kinh tế. Sự truyền bá đạo Kitô, dù ở đâu, thời nào, khắp thế giới, đặc biệt luôn luôn có mặt cùng với một, hay hai, hay cả ba chủ nghĩa thực dân kể trên; hơn thế nữa, trong hầu hết mọi trường hợp, nó đóng vai trò chủ đạo, là yếu tố nền tảng trong sự hình thành, duy trì và phát triển của chủ nghĩa thực dân cho đến nay.
Thực dân hay truyền đạo như vậy có thể nhìn theo hướng tác động và hệ quả như hai dạng thức liên quan mật thiết của cùng một sự kiện nhân văn: Sự đem vào, hay biến thành, dân chúng (tín đồ) của/theo mình, đến khai thác, làm ăn, sinh sống (theo/nhập/ chuyển/ cải đạo) ở một vùng, một lãnh thổ hay một quốc gia nào khác, trong đó có một văn hóa (tôn giáo) khác biệt; nhưng vẫn duy trì, phục tòng pháp luật (giáo điều) của nước mẹ (tôn giáo), bất chấp và luôn luôn đối lập, hoặc khai thác (những gì có lợi từ văn hóa, tôn giáo bản địa) hoặc triệt hạ, đàn áp (những gì không thuận lợi) nhằm đến sự bành trướng hay duy trì hiện diện của nó, ở địa phương đó (thuộc địa).
[9] consubstantial
[10] Godhead = Trinity
[11] tín điều có tên từ Athanasius, nhà gót học Kitô nổi tiếng của thế kỷ 4.
[12] Saint Gregory the Wonderworker, nhà chăn chiên cao cấp, coi toàn thành phố Neocaesarea (nay là Bắc Turkey)
[13] [http://www.catholic-forum.com/saints/indexsnt.htm?NF=l.]
[14] trường hợp Việtnam, chúng ta có thể kể thêm những kẻ phản nghịch liều chết chống lại triều đình, đã đồng thời tiếp tay, vô tình hay cố ý, trợ giúp cho ngoại xâm, cuối cùng đưa đến thảm họa mất nước, nên trong hoàn cảnh lịch sử khi ấy, liều chết vì đạo mới du nhập cũng đồng nghĩa với liều chết cho một nội dung tinh thần của kẻ địch bên cạnh những kẻ truyền đạo; cho những sức mạnh phản dân tộc. Chết vì một tín ngưỡng mới lạ, trong hoàn cảnh cụ thể đó, cũng là chết cho sức mạnh, vũ khí tinh thần của những kẻ đương đóng vai xâm lăng chính trị quân sự, cho những ngoại nhân đương kéo đến cửa biển, đương bắn phá thành trì từ nam ra bắc, đương tìm những người cộng tác để bành trướng, Trong tay của những kẻ xâm lăng không chỉ có súng sắt, tàu đồng, nhưng còn có kinh Thánh, thánh giá, chúng thực sự cũng là những vũ khí chết người. Đằng sau “Tây” xâm lăng là “tả” đạo Kitô. Khi ấy, cả hai đồng nghĩa, đều là xâm lăng đất nước; nên giữ đạo, theo đạo cũng có thể xem là đứng chung về phía xâm lược, dù chỉ trên tinh thần, là phản quốc thực sự. Thực tế lịch sử cho thấy những cộng tác mật thiết có thể có được giữa Tây/Ta, trong/ngoài, chỉ có thể thiết lập được trên quan hệ có cùng một tôn giáo, khiến những công tác do thám, tình báo, dân công, hậu cần, ... đều trở nên dễ dàng... Tất cả đã tiếp sức và góp phần quyết định xoay chuyển tình thế, đưa đến thành công khá nhanh chóng và dễ dàng cho một đoàn quân viễn chinh ít ỏi và xa lạ, của một đế quốc đương xa xút. Đánh giá những sự kiện đó đòi hỏi những điều kiện có lẽ không thể có, vì cần khác quan bằng khoảng cách thời gian lâu dài mới mong có thể làm sáng tỏ, và không sẽ dễ dàng, nên dù đã trăm năm sau, vẫn mê muội cũ, chỉ biết một chiều, mắt vẫn tối, lòng vẫn đục; nên chúng ta vẫn nghe đó đây tự ca tụng những nhân vật trong đám thông ngôn, giúp việc, hay nổi bật như đóng vai thức thời “kêu gọi canh tân đất nước”, tất cả không vì thực chất giá trị của những nội dung đó, đã làm ngơ không phân tích; vì néu có, sẽ cho thấy những không tưởng, sao chép, thiển cận, nhất thời, đều có mục đích phục vụ những mục tiêu ngắn hạn, những dọ dẫm mở đường ... cho thực dân, cả chính trị lẫn tôn giáo; cụ thể nhất là một tiếng lòng chân thực đòi “tổ quốc” phải “ăn năn”, vì đã “bức hại” một thiểu số lạc loài, những đứa “con của Gót”, sao thế lực trần gian có thể ngược đãi họ! vì với ấu trĩ hay ngây thơ này, tôn giáo với họ đơn giản chỉ là tín ngưỡng tôn giáo, không hề liên hệ gì với thời cuộc, xã hội, văn hóa, lẫn chính trị! – Biết những “tân tòng” phương Đông vẫn còn tâm lý đó, nên thế lực thực dân lớn rộng phương Tây đứng sau vẫn tiếp tục cổ vũ, không ngừng hô hào, kích động tinh thần; làm mới lại tinh thần tranh đấu; như hành động “truy phong” một lượt 117 người, trong số đó có những kẻ thất học, phản quốc, và cả ngoại nhân chết trong đám bạo loạn trên đất ViệtNam – thành những “thánh chiên chết vì đạo”; một hành động nhằm những tác động chính trị hiển nhiên; chúng ta đều biết vòng hoa hay huy chương đặt trên mồ người lính đã chết, chỉlà thông điệp cho những người lính đang còn sống (“thánh tử đạo” = đơn giản có nghĩa là chết vì đạo của mình mà thôi, không vì gì, không vì ai khác, nên nếu có cho là “thánh” dù nghĩa nào đi nữa, cũng chỉ có nghĩa với những tín đồ sùng mộ, những con chiên trong giới nhà thờ, và nếu có xem xét những tiêu chuẩn nào đưa đến được phong chức “thánh” như thế, tiêu chuẩn ấy phải là của riêng một tôn giáo, ở đây là đạo Kitô, không phải của toàn xã hội, dân tộc, hay nhân loại; nên tôi tạm gọi là thánh chiên để phân biệt (với những vị thánh đích thực chúng ta đã quen thuộc, thí dụ – thánh Khổng, thánh Tản Viên, thánh Gióng, thánh Trần, thánh Gandhi, ...)
Khi tôi viết những chữ này, nhà thờ Vatican tuần trước (Jul/2013) vừa phong chức thánh cho người đứng đầu trước đây của nó – là chính vua chiên John Paul II, sau khi người kế vị ông từ chức, và người đương nhiệm có tương lai còn mù mờ, nên phải đánh bóng, cho ra thị trường tôn giáo thêm một “tượng thần” mới, như nhắc nhở tín đồ rằng trong giới vua chiên xa đọa, vẫn có những nhân vật lãnh đạo còn “ăn khách”, gây được tên tuổi dư luận trong ngoài, như nhà báo Poland quá cố, tiêu biểu cho một tôn giáo hiềm thù, nên đã bị một người Muslim quá khích bắn, như Darkins đã nhắc biến cố trên, và như Darkins cũng nhận xét sau đó – chuyện phong thánh phong thần trong đạo Kitô là “hết sức vô nghĩa, tào lao như cứt bò”, là “phát minh bịa đặt trơ trẽn vô liêm sỉ”. Đối với chúng ta, trong hoàn cảnh hiện nay, nó còn là đê tiện, thâm độc và nham hiểm, nằm trong chiến lược lâu dài của mục tiêu bành trướng khắp thế giới, bất kể tổn hại, dù giá náo, cho dân chúng ở những địa phương nào, nơi nó vẫn là thiểu số. Tất cả những cổ vũ, đề cao công khai như thế sẽ dẫn đến sự bất ổn chính trị không cần thiết, thường đưa đến bạo động như lịch sử đã cho thấy là khó có thể tránh (cứ đổ thêm dầu, thế nào ngọn lửa, dù không mong đợi, cũng sẽ bùng lên từ đâu đó), rồi chia rẽ, sẽ dẫn đến phản loạn, đến phản quốc, mục đích cuối cùng tuy không còn là “nắm chính quyền” trá hình như trước, nhưng là “khuynh đảo chính quyền”; đặt một đất nước trần gian nằm dưới, và sửa soạn cho, một “vương quốc của gót”. Nội dung đó tất cả vẫn khéo léo che dấu dưới những danh nghĩa vô hại, hay tuyên truyền bằng những khẩu hiệu thời thượng, đẹp đẽ – như tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hay dân chủ, dân quyền,...Thực chất là một cuộc chiến dai dẳng của một tập đoàn mê tín thủ cựu, yếm thế (không tin vào đời này, chỉ tin vào đời sau), ác độc (quá khứ đầy rấy những chiến tranh tôn giáo, thập tự chinh, trung cổ đen tối, tòa án dị giáo,... đến chủ nghĩa thực dân, buôn nô lệ, diệt chúng, diệt văn hóa, tẩy rửa sắc tộc,...) với tinh thần độc đoán tin-chỉ một gót gốc từ phương Tây chống lại những người duy trí, tiến bộ, tinh thần tự do, những con người tin vào con người, nên không-tin-có-gót, tin vào những gì bây-giờ và ở-đây, trên khắp thế giới.
[15] nguyên văn của tác giả “Bs.”
[16] Susan Jacoby. Freethinkers: A History of American Secularism (2004)
[17] Những “quốc phụ” của nước Mỹ là những lãnh tụ chính trị đóng vai trò lãnh đạo quan trọng trong cuộc Cách mạng ở nước Mỹ và sau đó tiếp tục quyết định trong việc thiết lập thể chế Cộng hòa cho quốc gia liên bang mới độc lập. Những di sản của họ là nền độc lập như thành quả của cuộc cách mạng (1775-1783), sự thành lập Liên bang, và Hiến Pháp (American Revolution, the Articles of Confederation, and the Constitution).
Mặc dù danh sách này co dãn từng thời, tùy theo áp lực và thiên kiến chính trị, nhưng 10 người sau đây đều có tên trong mọi danh sách đã từng đưa ra: John Adams, Samuel Adams, Benjamin Franklin, Alexander Hamilton, Patrick Henry, Thomas Jefferson, James Madison, John Marshall, George Mason, and George Washington.
[18] [Congressional Record, 16 Sept. 1981.]
[19] [http://www.stephenjaygould.org/ctrl/buckner_tripoli.html.]
[20] [Giles Fraser, 'Resurgent religion has done away with the country vicar', Guardian, 13 April 2006.]
[21] revelation: chú thích trên
[22] Robert I. Sherman, in Free Inquiry 8: 4, Fall 1988, 16.
[24] Tom Flynn, chủ bút của Free Inquiry, nói lên điểm này thật mạnh mẽ (“Thời điểm đột phá của chủ nghĩa thế tục, Free Inquiry 26: 3, 2006, 16-17): “Nếu những người vô thần là bị trơ trọi và bị đè nén áp bức, chúng ta chỉ có chính mình để đổ lỗi. Về số lượng, chúng ta là mạnh mẽ. Hãy bắt đầu đấm bằng sức nặng của chúng ta. “
[25] Những hội như Freethought Society (FS) hay Humanist Society, hay Ethical Humanist Society là những tổ chức của những người không-tôn giáo, những người không-tin-có-gót ở các nước Anh Mỹ. Những người này được biết đến dưới tên gọi là những người suy nghĩ tự do, hay những người có quan điểm suy tưởng tự do (freethinkers).

Freethought: Suy tưởng tự do là một quan điểm triết học chủ trương rằng ý kiến, dư luận nên được thành lập trên cơ sở của lôgích, lý trí và thực nghiệm hơn là uy quyền, truyền thống, hay những giáo điều khác. Những người này thường là những người không-tôn giáo.
Irreligion: không-tôn giáo, hay thiếu-tôn giáo, cũng có ý phản lại hay lãnh đạm với tôn-giáo, và tôn giáo ở đây, trong nội dung xã hội phương Tây – là ba tôn giáo Abraham: Juda, Kitô và Islam.

William Kingdon Clifford (1845-1879), nhà toán học và triết gia, trường Cambridge, nước Anh, thế kỷ 19, có lẽ là người đã trình bày hay nhất qua khẳng định về sơ sở của suy tưởng tự do: “Đó là luôn luôn sai, ở khắp mọi nơi, và với bất cứ ai, để tin vào bất cứ điều gì khi không đủ bằng chứng”. Lai lịch chi tiết như sau: Năm 1877 trong tạp chí Contemporary Review. Clifford, cho phổ biến “Đạo đức của Niềm tin” (The Ethics of Belief). Bài luận văn này của Clifford sau đó nổi tiếng và được ghi nhớ nhờ hai điều chủ yếu: một câu chuyện và một nguyên tắc.

Câu chuyện một người chủ tàu, một lần đó, đã sẵn sàng bán vé hành khách cho một chuyến tàu xuyên Atlantic: London – NewYork. Điều thình lình xảy ra cho ông là tàu của ông đã lung lay, và sự an toàn của nó có thể là vấn đề. Biết rằng việc sửa chữa sẽ rất tốn kém và gây chậm trễ đáng kể, người chủ tàu đã dàn xếp được để đẩy những lo lắng sang một bên và hình thành một “quả quyết chân thành và yên tâm” rằng tàu của ông thì hoàn toàn an toàn và đủ khả năng đi biển. Ông đã bán vé, tiễn những hành khách lên tàu, và sau đó lặng lẽ nhận tiền bảo hiểm “khi chiếc tàu chìm giữa đại dương và không kể câu chuyện nào”.
Theo Clifford (là người từng sống sót sau một vụ đắm tàu, và do đó phải đã tìm thấy hành vi này đặc biệt kinh tởm), người chủ tàu trong câu chuyện là “chắc chắn phạm tội về cái chết của những hành khách này”, bởi vì mặc dù ông đã chân thành tin rằng con tàu là vững chắc, “ông đã không có quyền để tin trên bằng chứng như thế như đã có trước ông ta”. Tại sao ông ta không có quyền như vậy? Bởi vì, Clifford nói, “ông đã thu được tin tưởng của mình không bằng kiếm được nó một cách trung thực trong sự điều tra kiên nhẫn, nhưng bằng bóp chết những nghi ngờ của ông”. Sau khi phân tích và đưa ra nhận định này, Clifford đổi kết cục câu chuyện: Con tàu không đạt mức an toàn trên biển, tuy vậy nó đã về bến an toàn và kéo còi hụ tiến vào cảng New York. Có phải kết cục mới này lấy đi khiển trách niềm tin của người chủ tàu? “Không bớt một ly nào!.” Clifford tuyên bố: ông ta vẫn phạm tội như nhau trong cả hai kết cục – trong cả hai, ông ta đều có tội, đều đáng khiển trách – vì đã tin tưởng vào một gì đó mà không đủ bằng chứng.
Clifford đi tiếp đến đơn cử những cáo trạng theo trực giác của chúng ta về người chủ tàu trong cả hai phiên bản của câu chuyện – như cơ sở cho nguyên tắc nổi tiếng của ông:
(Nguyên tắc Clifford:) “Điều luôn luôn là sai lầm, ở khắp mọi nơi, và với bất cứ ai để tin tưởng vào bất cứ điều gì trên bằng chứng không đầy đủ”.

Mặc dù nguyên tắc này có tính chất thời gian đồng bộ, quan điểm của Clifford không phải chỉ đơn thuần là chúng ta phải (a) ở trong một tình trạng nhất định nào đó, (b) vào một thời điểm chính xác nào đó, mà từ đó chúng ta hình thành một tin tưởng. Nhưng đúng hơn là, có bổn phận luôn luôn (mọi thời) và chỉ tin tưởng trên bằng chứng đầy đủ, điều này chi phối những hoạt động của chúng ta cũng trong mọi thời điểm. Đối với hầu hết, nếu không phải tất cả các mệnh đề chúng ta xem xét như là chọn lựa, cân nhắc để tin tưởng, Clifford nói, chúng ta có bổn phận phải đi ra ngoài và thu thập chứng cứ, giữ cửa mở với bằng chứng mới, và cân nhắc xem xét bằng chứng do những người khác cung cấp. Nếu một ai đó vi phạm bổn phận phải giữ theo thời gian này, bằng cách “cố ý tránh đọc sách và hội ý với người khác là người đặt vấn đề với” những tiền giả định của mình, (nghĩa là một thời đã hình thành tin tưởng về một vấn đề nào đó, trong một lĩnh vực nào đó, rồi sau đó không tiếp tục đi ra ngoài đến những lĩnh vực liên hệ, không tiếp tục kiểm nghiệm lại tin tưởng của mình, làm như thế không ngưng nghỉ, suốt đời...) Clifford cảnh cáo, sau đó “đời của con người đó là một tội lỗi dài chống lại loài người”. Bổn phận xuyên thời thời gian ở đây được ghi nhận với bình luận như sau:
(Nguyên tắc kia của Clifford:) “Điều luôn luôn là sai lầm, ở khắp mọi nơi, và cho bất cứ ai để làm ngơ bằng chứng có liên quan đến tin tưởng của mình, hoặc dễ dãi gạt bỏ bằng chứng liên quan”. (theo The Stanford Encyclopedia of Philosophy).

[26] [http://www.fsgp.org/adsn.html.]
[27] [An especially bizarre case of a man being murdered simply because he was an atheist is recounted in the newsletter of the Freethought Society of Greater Philadelphia for March/April
và chuyển xuống đến 'The murder of Larry Hooper'.]
[28] theocrat: người tin ở chủ nghĩa thần quyền, ở đây là tin vào quyền-gót có trên con người.
[29] “Yes I am, I am also a Muslim, a Christian, a Buddhist, and a Jew”. Khi hỏi ông có phải là một tín đồ Hindu không, nhưng ông cũng nói thêm: “Tôi thích Christ của ông. Nhưng tôi không thích những người Kitô của ông. Những người Kitô của ông hết sức không giống Christ của ông”
[30] [ http://www.hinduonnet.com/thehindu/mag/2001/ll/18/stories/2001111800070400.htm.]
[31] [“Thưa ngài, tôi đã không cần đến giả thuyết đó”, như Laplace đã nói, khi Napoleon hỏi cách nào nhà toán học nổi tiếng này đã có thể hoàn tất viết quyển sách của ông mà không nhắc nhở gì đến Gót.]
[32] Muscular Christianity: Phong trào Kitô Bắp thịt: tực hành và quan điểm của nhưng người Kitô, tin rằng một trong những bổn phận tôn giáo của họ là phải giữ thân thể cường tránng mạnh mẽ, phong trào này đặc biệt phổ biến trong thời nữ hoàng Victoria nước Anh, thời thơ ấu của tác giả.
[33] agnosticism: Triết học tôn giáo (từ gốc Hylạp : a (không) + gnostikos (người là kẻ biết)). Một từ T. H. Huxley đã dùng đầu tiên để chỉ một lập trường không tin Gót hiện hữu, cũng không tin Gót không hiện hữu, và phủ nhận rằng chúng ta có thể có bất kỳ kiến thức nào về bản chất của Gót. Như thế thuyết không thể biết tương phản với cả thuyết tin-có-gót, vốn chủ trương chúng ta có thể biết được sự hiện hữu và bản chất của Gót, và với thuyết không-tin-có-gót, vốn phủ nhận sự hiện hữu của Gót. Những người theo thuyết không thể biết, như Kant và Hume, biện luận rằng lý trí con người có những giới hạn di truyền và không thể vượt qua. Do đó chúng ta không thể biện chứng bất kỳ một tuyên xưng nào để ủng hộ cả hai lý thuyết tin và không tin về gót, và nên ngưng những phán đoán của chúng ta về những vấn đề này.
Quan điểm của thuyết không thể biết đã tồn tại qua nhiều thời đại, nhưng nó trở nên quan trọng trong những tranh luận liên quan đến khoa học và niềm tin tôn giáo, ở thế kỷ XIX. Ngày nay, thuyết không thể biết thuyết cũng được sử dụng với nghĩa tổng quát hơn, để chỉ sự đình chỉ phán đoán về sự thật hay sai lầm của những tuyên bố đi xa hơn những gì chúng ta có khả năng phán đoán hoặc kinh nghiệm thông thường.
Xem thêm giải thích của Russell – Thế nào là một người theo thuyết Không-thể-biết?