Sunday, December 25, 2011

Bertrand Russell - Những gì tôi tin tưởng



Những gì tôi tin tưởng

What I Believe (1925)

Bertrand Russell





Những gì tôi tin tưởng đã xuất bản như một quyển sách mỏng vào năm 1925. Trong đó, Russell đã viết ở lời nói đầu, “tôi đã cố gắng nói những gì tôi nghĩ về vị trí của con người trong vũ trụ, và những khả năng của nó trên con đường đi đến đời sống tốt đẹp. … Trong những vấn đề của con người, chúng ta có thể thấy rằng có những sức mạnh làm nên hạnh phúc, và những sức mạnh tạo đau khổ. Chúng ta không biết sức mạnh nào sẽ thắng thế, nhưng nếu hành động một cách khôn ngoan, chúng ta phải nhận thức được cả hai”.

Trong phiên tòa ở New York vào năm 1940, Những gì tôi tin tưởng là một trong những quyển sách đã được đem trình bày để nhằm biện minh rằng Russell không thích hợp với ghế giáo sư được mời dạy tại tại City College. Bản văn cũng được trích dẫn rất rộng rãi trên báo chí lúc ấy, nhưng thường là trong cách thức đem lại ấn tượng sai lạc về những quan điểm của Russell. Trước đây đã giới thiệu ônng như một triết gia vô thần, với danh nghĩa là một người theo thuyết Không-thể-biết? (What is an agnostic?), và bài luận thuyết nổi tiếng Tại Sao Tôi Không là người Kitô? (Why I Am Not a Christian) trình bày quan điểm của ông với một tôn giáo truyền thống của văn hóa phương Tây. Bài mở đầu tự truyện của ông Những gì tôi đã sống (What I Have Lived For) hé mở cho chúng ta thấy những chân trời ông hướng tới, những quá tóm lược, nên nay giới thiệu thêm bài này, cho thấy chi tiết hơn những tin tưởng của ông làm cơ bản cho các phê phán tôn giáo. Nhân lúc cuối năm, đọc lại, dịch và suy ngẫm về những gì ông nói, cảm thấy có ít nhiều gần gũi – khi thu lại trong - Một đời sống tốt đẹp bắt nguồn cảm hứng từ yêu thương và được trí tuệ dẫn dắt - nghĩa là sống với thương và hiểu, với hai vị bồ tát của cuộc đời - Avalokitesvara và Mañjuśrī.

Dịch từ Bertrand Russell, “What I Believe”, trong The Basic Writings of Bertrand Russell (1903-1959), Phần IX, The Moral Philosopher. Robert. E. Egner và Lester E Denonn biên tập, với lời tựa của Bertrand Russell (London: Routledge, 2001), pp. 344-367.

Lê Dọn Bàn

Wednesday, December 21, 2011

Elizabeth Bishop - One Art


Một nghệ thuật

One Art
Elizabeth Bishop
(1911 –1979)






Nghệ thuật chịu mất mát không phải là khó thành tài giỏi;
Rất nhiều điều xem dường sẵn đầy mục đích
để bị mất, nhưng mất mát của chúng không là thảm họa.

Mất một cái gì đó mỗi ngày. Chấp nhận sự bối rối
mất những chìa khóa cửa, mất thì giờ tiêu phí.
Nghệ thuật chịu mất mát không phải là khó thành tài giỏi.

Sau đó luyện tập mất mát xa hơn, mất mát nhanh hơn:
Những chốn, và những tên, và nơi bạn vừa có ý định đến
thăm viếng. Không điều nào trong số chúng sẽ mang lại thảm họa.

Tôi bị mất đồng hồ di vật của mẹ. Và nhìn! Cái cuối cùng, hoặc
cái kế cái cuối cùng, của ba căn nhà yêu thương tôi đã mất.
Nghệ thuật chịu mất mát không phải là khó thành tài giỏi.

Tôi đã mất hai thành phố, những phố xá yêu kiều. Và, bao la hơn,
dăm khung trời mà tôi đã có, mất hai con sông, cả một lục địa.
Tôi nhớ chúng, nhưng đó đã không phải là một thảm họa.

- Ngay cả nếu như mất em (cái giọng nói đùa, cái dáng
tôi yêu), tôi sẽ không phải nói dối. Nó hiển nhiên rằng
nghệ thuật chịu mất mát không phải là quá khó để thành tài giỏi
mặc dù nó có thể trông giống tựa (Viết nó lên !) như thảm họa.

Lê Dọn Bàn tạm dịch
(những ngày Noel – Dec/2011)



Wednesday, December 14, 2011

Charles Baudelaire - Brumes et pluies



Mù và mưa
(Brumes et pluies) 

Charles Baudelaire  






Ô những cuối thu, những cuối đông, những xuân đầy bùn đóng,
Những mùa mơ ngủ, ta yêu ngươi và ngợi ca ngươi
Cuốn gói lòng ta và óc não ta như thế
Trong vải liệm mù sương và nấm mồ mờ ảo.

Trên đồng bao la này chạy đùa cơn gió nam buốt cóng.
Những đêm dài mũi tên quay con gà khản giọng,
Hơn thời ấm áp, hồn ta mới lại, dễ dàng
Nó vung mở hai cánh quạ đen lớn rộng.

Không gì ngọt ngào hơn với một con tim đầy tang tóc,
Và đã từ lâu sương giá xuống phủ đầy,
Ô những mùa xanh xao, nữ hoàng khí hậu của bầy ta,

là dạng ngoài vĩnh viễn của những tối tăm nàng nhợt nhạt,
- Nếu đó không là, đêm nào không trăng, song hàng nằm cạnh,
Ngủ lịm cơn đau trên một giường bất chợt.

Lê Dọn Bàn tạm dịch - bản nháp thứ nhất
(Dec/2011)

Monday, December 5, 2011

Plato - Republic (10)


Plato
The Republic 

(Πλάτων - Πολιτεία)




Quyển X

Tóm tắt 

Đến đây, Socrates đã hoàn tất luận chứng chính của The Republic, ông đã định nghĩa công lý và cho thấy nó là đáng giá, nghĩa là nên theo đuổi và thực hiện cho polis và những công dân của nó. Ông quay trở lại câu hỏi đã tạm hoãn liên quan đến thơ ca về con người. Trong một động tác rất ngạc nhiên, khá  bất ngờ, ông xua đuổi những nhà thơ khỏi thành phố. Ông có ba lý do để xem những nhà thơ là bất thiện và nguy hiểm. Đầu tiên, họ giả vờ như biết về tất cả những loại sự vật, nhưng họ thực sự không biết gì cả. Thường được rộng rãi xem họ là có kiến ​​thức về tất cả những gì họ viết về chúng, nhưng trong thực tế, họ không biết. Những điều mà họ tiếp cận với vốn không thể đưa đến sự hiểu biết thực: chúng là những hình ảnh, khác xa với những gì là thật nhất. Bằng cách trình bày những cảnh tượng hết sức xa vời với sự thực, những nhà thơ, làm lầm lạc, làm hư hỏng những linh hồn người đọc, quay chúng đi xa khỏi cái thực nhất nhưng về cái ít thực nhất.

Tệ hơn nữa, những hình ảnh nhà thơ miêu tả không bắt chước phần tốt đẹp của linh hồn. Phần hợp lý của linh hồn là yên tĩnh, ổn định, và không dễ dàng để bắt chước hoặc thấu hiểu. Nhà thơ bắt chước những phần tồi tệ nhất - những khuynh hướng vốn làm cho nhân cách  dễ dàng bị kích động và màu mè. Thơ ca thường tự nhiên kêu gọi đến những phần tồi tệ nhất của linh hồn, và khơi dậy, nuôi dưỡng, và làm mạnh lên những yếu tố bản năng này trong khi chuyển năng lực sống mất khỏi phần lý trí.


Sunday, December 4, 2011

Plato - Republic (9)

Plato
The Republic 

(Πλάτων - Πολιτεία)









QUYỂN  8

Tóm tắt 
Bây giờ Socrates đã hoàn tất mô tả thành phố công chính, ông trở lại công việc bị gián đoạn là mô tả bốn loại hiến pháp khác của thành phố và con người tương ứng. Ngoài chế độ quí tộc và nhà vua-triết gia là hiện thân thu nhỏ và cai trị chính thể này, đã thảo luận trước đây; Socrates xác định bốn cặp thành phố-con người khác: có chế độ tôn sùng danh dự quân đội [1], và trong đó có loại người bị điều khiển và thúc đẩy hướng tới danh dự, là người kết hợp và cai trị loại chính phủ đó; có chế độ tập đoàn lãnh đạo [2], kết hợp và cai trị bởi người bị điều khiển bởi những ham muốn thèm khát cần thiết của mình, có chế độ dân chủ, kết hợp và cai trị bởi người bị điều khiển bởi những ham muốn không cần thiết; và có chế độ chuyên chế độc tài, kết hợp và cai trị bởi người bị điều khiển bởi những ham muốn bất hợp pháp. Mỗi một trong số kể đó tệ hơn cái khác, với một chế độ độc tài là hình thức chính phủ khốn khổ nhất và người độc tài khốn nạn nhất của con người. Thật không may, vì thành phố của chúng ta là của con người và tất cả mọi thứ của con người đều không tránh khỏi thoái hóa, bốn hiến pháp bất công này trình bày ở đây không như là có thể có trong lý thuyết: nhưng chúng được trình bày như là những giai đoạn thực sự không thể tránh khỏi của thành phố công chính sẽ thoái hóa theo thời gian.

Monday, November 28, 2011

Plato - Republic (8)

Plato
The Republic 

(Πλάτων - Πολιτεία)







QUYỂN 7

Quyển 7 bắt đầu với câu chuyện nổi tiếng Dụ ngôn Cái Hang [1], với mục đích đi cùng với dụ ngôn Mặt trờidụ ngôn Đường thẳng Phân Đoạn, ở cuối quyển 6 trước đó (517b), bằng cách minh họa những ảnh hưởng của giáo dục trên linh hồn (514a). Thảo luận về giáo dục của những triết gia vẫn tiếp tục. Giáo dục trẻ em bắt đầu với huấn luyện âm nhạc và thể dục và toán học sơ cấp (535a-537b) theo sau là hai hoặc ba năm thể dục bắt buộc (537b-c), mười năm của giáo dục trong khoa học toán học (537c-d, 522c-531d), năm năm huấn luyện về biện chứng (537d-540a, 531e-535a), và mười lăm năm huấn luyện chính trị thực hành (539e-540a). Sau khi được giáo dục như vậy, người thụ nhận nó sẵn sàng để nhìn thấy cái Tốt tự thân và là những nhà vua-triết gia (540a).




Dụ Ngôn Mặt Trời, Đường Thẳng Phân Đoạn, và Cái Hang


Giải thích ý tưởng của ông về một nhà vua-triết gia, Plato gọi đến ba dụ ngôn liên tiếp, ở cuối quyển 6 và đầu quyển 7;  để nói rõ những lý thuyết siêu hình và tri thức luận về tầm quan trọng của vai trò không thể thay thế được của triết học trong chính trị. Sự tương tự của mặt trời làm sáng tỏ khái niệm về Thể dạng của cái Tốt, đối tượng mong ước tối cao của nhà-vua-triết-gia. Đường thẳng Phân đoạn minh họa bốn bậc khác nhau của hoạt động nhận thức vốn có của con người có khả năng, và mức cao nhất trong đó chỉ những nhà vua-triết gia mới đạt được. Dụ ngôn Cái Hang cho thấy ảnh hưởng của giáo dục trên linh hồn con người, thể hiện qua cách chúng ta chuyển dịch từng chặng như từng bậc thang, của những hoạt động nhận thức.

Thursday, November 24, 2011

Plato - Republic (7)


Plato
Republic










QUYỂN  6

Những triết gia đích thực là trái ngược với những người thông thường vẫn được gọi là triết gia. Những triết gia đích thực phải quán triệt những vấn đề quan trọng nhất (503e), những nội dung dẫn đến kiến thức về Thể dạng của cái Tốt (504e-505b). Socrates không thể giải thích trực tiếp điều này là gì, nhưng trong dụ ngôn Mặt trời và dụ ngôn Đường thẳng Phân Đoạn, ông cố gắng đem lại một giải thích gián tiếp về chúng (507a-511e).


Tóm tắt Quyển 6

(484a-502c) - Thừa nhận rằng chỉ những triết gia mới có thể có kiến ​​thức đích thực, hiển nhiên họ là những người có khả năng tốt nhất để hiểu biết và nắm giữ những gì là tốt đẹp cho thành phố, và như vậy là ở vị trí hay nhất để biết điều hành và cai trị thành phố như thế nào. Nếu như chúng ta chỉ biết là họ đạo hạnh - hay ít nhất không đứng thấp hơn những người khác về đạo đức – những người bạn của Socrates đồng ý, sau đó chúng ta có thể chắc chắn rằng họ là những người phù hợp nhất để cai trị. May mắn hơn, chúng ta còn biết đạo đức của triết gia vượt cao trên tất cả mọi người khác. Một triết gia yêu sự thật nhiều hơn bất cứ gì khác (“triết gia” có nghĩa là “người yêu sự thật, hay trí tuệ”), trọn vẹn linh hồn ông phấn đấu đuổi theo sự thật. Điều này có nghĩa là phần lý trí của linh hồn ông phải cai quản trong ông, có nghĩa linh hồn ông là công chính.

Wednesday, November 23, 2011

Plato - Republic (6)


Plato
The Republic 

(Πλάτων - Πολιτεία)





QUYỂN 2
(tiếp theo và hết)


(SOCRATES kể tiếp tục:)

Giờ đây, tôi đã luôn luôn ngưỡng mộ những cá tính tự nhiên của Glaucon và Adeimantus, nhưng tôi đặc biệt hài lòng khi tôi nghe những gì họ đã phải nói trong dịp này, và tôi trả lời:

Con người nổi tiếng đó, người yêu của Glaucon [1] đã không sai để bắt đầu khúc bi ca ông đã viết, khi bạn tự làm nổi bật chính mình trong trận chiến tại thành Megara [2], bằng cách gọi bạn là “Những con trai của Ariston, một người lẫy lừng của gia đình tựa-như-gót”. Điều đó, người bạn thân mến của tôi, đã là nói rất hay rất khéo, theo quan điểm của tôi. Vì một điều gì đó tất cả như giống-gót đã phải tác động lên bạn, nếu như bạn đã không chịu bị thuyết phục rằng bất công là tốt hơn công lý, và ấy thế bạn có thể nói giống như vậy nhân danh nó. Và tôi không tin rằng bạn thực sự không bị thuyết phục bởi những lời của bạn. Tôi suy ra điều này từ nhân cách tổng quát của bạn, vì nếu như tôi đã chỉ có những luận chứng của bạn để tiếp tục, tôi sẽ không tin tưởng bạn. Tôi càng tin tưởng bạn bao nhiêu, tuy nhiên, tôi càng hang mang bấy nhiêu về phần phải làm những gì. Tôi không thấy làm thế nào tôi có thể giúp đỡ được. Thật vậy, tôi tin rằng tôi không có khả năng về điều đó. Và đây là bằng chứng của tôi: Tôi nghĩ rằng những gì tôi đã nói với Thrasymachus cho thấy rằng công lý là tốt hơn so với bất công, nhưng bạn sẽ không chấp nhận điều đó từ tôi như đó là một chứng minh. Về mặt khác, tôi không thấy làm thế nào tôi có thể từ chối, tôi không giúp đỡ. Vì tôi sợ rằng nó thậm chí có thể là không đạo hạnh để một người thở vào trong thể xác và có khả năng nói, và thế nhưng lại đứng yên không làm gì cả, và không bảo vệ công lý khi nó đang bị lên án. Điều tốt nhất, sau đó, là đem cho công lý bất kỳ sự trợ giúp nào mà tôi có thể.

Glaucon và những người khác khẩn cầu tôi đừng từ bỏ những luận chứng, nhưng hãy giúp đỡ trong tất cả mọi cách để theo dấu và tìm lấy xem công lý và bất công mỗi chúng là gì, và sự thật về những lợi ích tương ứng của chúng. Vì vậy, tôi nói với họ những gì tôi đã có trong não thức:

Sunday, November 20, 2011

Plato - Republic (5)

Plato
The Republic 

(Πλάτων - Πολιτεία)




 QUYỂN 2

(Giản lược)

Không hài lòng với thành quả đã có được ở cuối Quyển 1, Glaucon và Adeimantus đổi mới luận điểm của Thrasymachus. Để đáp lại, Socrates phải cho thấy rằng công lý là xứng đáng được lựa chọn (a) vì chính nó, và (b) vì những hậu quả của nó (357a-358a). Socrates không hoàn tất luận điểm (a) của mình cho cho đến cuối Quyển 9.

Socrates chuyển tranh luận từ công lý cá nhân sang công lý chính trị. Ông mô tả một thành phố lý tưởng, hay thành phố tốt đẹp hoàn toàn - Kallipolis. Sau khi định chỗ của công lý trong nó, ông sẽ tìm công lý trong linh hồn. Thành phố đầu tiên ông mô tả bị Glaucon sa thải bởi như chỉ phù hợp cho những con lợn, không cho dân chúng Athens lịch lãm. Thành phố thứ hai thì sang trọng hơn. Tuy nhiên, trong nó có sự hiện diện của những thèm muốn nhiều hơn những nhu cầu cần thiết được cung cấp trong thành phố đơn giản hơn trước đây của nó, dẫn đến phe phái dân sự và chiến tranh. Để ngăn chặn những điều này đừng phá hủy thành phố, cần có quân đội cảnh sát. Đây là những người giám hộ. Sở hữu tự nhiên và giáo dục cần thiết cho họ sẽ được mô tả tiếp theo. Vì huấn luyện âm nhạc bắt đầu trước huấn luyện thể dục, nội dung của giáo dục âm nhạc, đặc biệt những loại câu chuyện nào mà những người giám hộ tương lai nên nghe về những vị gót và anh hùng là đề mục đầu tiên của chuyện dạy dỗ này (377e).

Tuesday, November 15, 2011

Thơ Lê Thạch Thất


Paterson

(James Newman Paterson – 1914-2011)













October 27, 2011                                                                                                                                           

1.
ai có thể hiểu cuộc đời cô đơn như thế nào
tôi nghĩ tôi hiểu, nhưng chiều nay đứng trước Paterson
tôi biết mình còn chưa hiểu
lối nào đến nghĩa trang cũng có lá trải trên đường,
vào thị trấn chạy quanh hồ, tôi dừng nhìn sóng bạc đang xô bờ tìm an tĩnh
trên màu thu khoác những đồi xa
trên những đàn chim duỗi cánh nhanh vội xếp hình V cùng bay nhẫn nại
trở về, đất và trời, và tất cả đang chuyển mình trở về
riêng tôi còn lang thang.

2.
người ta thường nói đến cô đơn, nhưng có lẽ phải lâu lắm một người mới thật hiểu
có khi quá muộn tận cuối đời, mới gặp cô đơn thực sự
mênh mông biết chừng nào
Paterson trên bàn
Một bó hoa thưa cạnh hộp tro tàn
ông chăm chú, nghiêng nghiêng cúi nhìn tôi, nụ cười đôn hậu ấm mùa đông
thong thả và khoan hòa, con người nhã hiệp cuối cùng của thế kỷ đã ra đi

cao, gầy, ít nói, già và lặng lẽ
một người đã sống nhiều để hiểu nói cũng được mà không nói cũng được
có khi không nói để sự việc đẹp hơn
những gì chúng ta tưởng hiểu, có ý nghĩa trước sau
nhưng trong tận cùng có lẽ không có ý nghĩa nào cả
chẳng qua gán buộc và mong muốn chúng phải có.
Thế nên chúng tôi thỉnh thoảng nói, và hỏi, và trả lời
thường chen lẫn nhiều im lặng.

3.
những cánh đồng thu dọn sạch
những luống đất ngay thẳng đã cày phơi đất màu xẫm đợi mùa sau
ngựa thản nhiên đứng, đàn bò tụ họp thảnh thơi, mặt ao thu yên tĩnh
những truông đầy giống cây Scots-pine nào đó lá bỗng úa vàng
hay chúng đang chết chăng
Thu qua đi gần hết tự bao giờ
trời không gió, những tháp điện có cánh quạt ngừng quay từng dãy ngẩn ngơ
chúng tần ngần ngóng chờ.
chỉ tôi còn vội vã
trên đường đến gặp lại Paterson
nằm đây, giữa cha, mẹ và em gái
tấm biển mới thêm vào giữa những tấm biển cũ mờ đất bụi
cỏ thưa không dấu hết tên những người trăm năm trước
trên đồi thu những cây tùng xanh, những bụi cây thấp, những bờ đá rêu
những cột đá hoa bóng dấu tuyết sương – những tên khắc để người sau trầm ngâm đứng hỏi quá khứ
dưới nắng thu những mặt đá không tiếng nói.

một phần tôi nào đó đã theo ông ra đi
rồi cùng tất cả đã trở về
quanh đây 
nằm yên.          
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                               
Lê Thạch Thất
Oct 27, 2011