Friday, December 25, 2009

Phản-kitô - The Antichrist



Phản-kitô
Lời nguyền rủa đạo Kitô

Friedrich Nietzsche (1844 – 1900)
Der Antichrist (1895)
Fluch auf das Christenthum.




Lời người dịch bản tiếng Việt

Có thể nói gì thêm về con người tên tuổi đã gắn liền với lời cáo tri chấn động thế kỷ qua – “Gót đã chết” – “Gott ist todt”?

Với những dụ ngôn và ảo ngữ, Nietzsche viết những luận văn triết học đọc như thơ xuôi, như sấm dụ. Lên án đạo Kitô đại diện cho “tất cả những hèn yếu, thấp kém và vụng hỏng”, và toàn thể truyền thống Kitô-Dothái què quặt tác hại, Nietzsche muốn phá hết tật nguyền, để dựng lại toàn bộ văn minh phương Tây từ những giá trị đạo đức cơ bản.

Phản-kitô [1]  là tác phẩm đem tranh luận không ngừng đến những tiếp nối thế hệ người viết và đọc triết học.

Dịch từ những bản tiếng Anh, tham khảo thêm bản tiếng Pháp, vì bản thân người dịch, hắn không biết tiếng Đức.
Thử thôi, dẫu chút sai cũng chỉ như muối bỏ biển, không đổi được vị đã mặn đắng những lời sâu thẳm.

Và, không sao đi chệch được những dòng thác cuộn tràn bờ dũng mãnh của vị thiên tài phá hủy thánh tượng; của Nietzsche, đắm say cuồng nộ rồi lặng im loạn trí giữa nhân gian.

Người dịch
Lê Dọn Bàn
(Noel – 2009)

Monday, December 14, 2009

Sam Harris – Thư gửi dân chúng một nước Kitô

Thư gửi dân chúng một nước Kitô


Letter to a Christian Nation
Sam Harris









Ghi chú gửi độc giả

Kể từ khi quyển sách đầu tiên của tôi – The End of Faith(Đường cùng của Đức tin Tôn giáo) – xuất bản, hàng nghìn người đã viết để bảo tôi rằng tôi không tin vào Gót là sai. Trao đổi thù nghịch nhất trong những thư tín này đến từ những người Kitô. Đây là điều mỉa mai, trái khoéo, vì những người Kitô nói chung hay tưởng tượng rằng không tín ngưỡng nào ban phát những đức hạnh yêu thương và tha thứ hiệu quả hơn là tín ngưỡng của riêng họ. Sự thật là nhiều người tuyên bố mình đã được tình yêu của Christ chuyển hóa, là người đã sâu hận, đến ngay cả mức dọa giết, không kham chịu nổi sự phê bình. Trong khi chúng ta có thể gán điều này vào bản tính con người, có một điều rõ ràng là ghét hận đến mức như thế, rút ra được ủng hộ đáng kể từ kinh Thánh. Làm sao tôi biết điều này? Những thư từ trao đổi với tôi khuấy động dữ dằn nhất, luôn luôn viện dẫn chương này, câu nọ của kinh Thánh.

Trong khi quyển sách này [1] nhằm tới mọi người thuộc mọi tín ngưỡng, nó được viết trong hình thức một lá thư gửi một người Kitô. Trong đó, tôi trả lời rất nhiều những biện luận mà những người Kitô đã đưa ra khi chống trả cho những tin tưởng tôn giáo của họ. Mục đính chính của quyển sách là để vũ trang cho những người không tôn giáo trong xã hội chúng ta, những người tin rằng tôn giáo phải nên giữ ở ngoài hoạch định chính trị công quyền, chống lại những địch thủ của họ ở phe Quyền người Kitô [2]. Do đó hệ quả là, “Kitô” tôi nói với, trước sau, là một Kitô trong một nghĩa hẹp của từ này. Một người như thế tin, ở mức ít nhất, rằng kinh Thánh là những lời Gót ứng truyền và chỉ những ai chấp nhận Jesus Christ là thần linh, mới sẽ thực được cứu rỗi sau khi chết. Hàng tá những thăm dò khoa học gợi ý hơn quá nửa dân chúng nước Mỹ chấp nhận những tin tưởng này. Dĩ nhiên, những cam kết siêu hình như thế không liên hệ chỉ riêng với bất kỳ một nhóm Kitô nào. Trong khắp những giáo phái Thủ cựu – Catô, Tin lành Chủ lưu, Tin lành Phúc âm [3], Baptists, Pentecostals[4], Jehovah's Witnesses [5], và vân vân – đều tất cả bao hàm ngang nhau trong những lập luận của tôi. Như chúng ta đã biết rất rõ, những tin tưởng của Kitô thủ cựu hiện nay tác hành một ảnh hưởng khác thường trong bàn luận công việc quốc gia của chúng ta – trong tòa án của chúng ta, trong trường học của chúng ta và trong mọi ngành của chính phủ.

Thursday, December 3, 2009

Sự Hy sinh Lý trí


Sự Hy sinh Lý trí

The Sacrifice of Reason
Sam Harris









Lời Người dịch


Trong bài viết Có phải đạo Kitô phi lý không? – M. Martin chỉ ra sự phi lý trong lý thuyết về Sự Chuộc tội của đạo Ki tô – câu hỏi tại sao – giả định –Jesus lại hiện thân xuống trần, hy sinh trên thập giá để rồi phục sinh.

Một trong các câu trả lời có thể tìm được trong lịch sử về tục lệ giết vật tế thần – của nhân loại ở cổ thời. Bài viết này của Harris khai triển nội dung đó.

Ông cũng đưa ra nhận xét về trường hợp bà nữ tu Catô nổi tiếng Teresa, theo ông, nhật ký của bà thực sự cho thấy một con bệnh của khủng hoảng tâm thần, bệnh thông thường nên bà đã có thể giãi bày với chính mình và các đồng nghiệp – cho biết đã mất lòng tin từ lâu, không còn tìm được tin tưởng nào vào Gót, vào tình yêu của Gót, vào Thiên đường. Bà thú nhận, tìm chúng nhưng chỉ thấy hư không, tối đen và giá lạnh.

Những giòng nhật ký tâm linh đầy xúc động, những thống khổ, đau đớn tín ngưỡng chân thực đáng kính trọng, nhưng người ta vẫn tìm cách giải thích khác đi – nên Harris phải kết luận thật mỉa mai: “hoài nghi của kẻ chuyên nghiệp, vẫn đã được nghĩ là xác định cho một chủ thuyết, vậy cái gì nữa mà lại có thể phủ định được nó đây?”

Kết luận này gợi lại một câu hỏi Antony Flew, từ 1950, đã đặt ra với các nhà thần học Kitô “Cái gì phải nên xảy ra, hoặc phải xảy ra đề tạo thành cho quí vị một phản chứng về tình yêu của, hoặc sự hiện hữu của God?” – trong một luận văn nổi tiếng Thần học và Phản chứng.

Christ trên thập giá – chính là sự lập lại cho đến nay – một tục lệ dã man cổ thời – giết vật hy sinh – và ăn thịt đồng loại. Những ai bào chữa đây chỉ có ý nghĩa tượng trưng, hãy đọc định tín của hội đồng Trent – khi một tín đồ nhận bánh và rượu thánh trong lễ bí tích thánh thể (Eucharist) – họ thực sự ăn thịt và uống máu – chiên con của Ðức chúa Trời – là chính vị giáo chủ của họ.

Họ lấy chính lý trí của mình, giết đi và dâng làm hiến vật.

Theo tôi, đó là nội dung tác giả muốn cảnh cáo những ai còn mê muội, hàng năm vẫn tưng bừng kỷ niệm một vụ tự sát nổi tiếng nhất trong lịch sử nhân loại.

Người dịch
Lê Dọn Bàn
(Mùa Noel – Dec/2009)

Tuesday, December 1, 2009

Michael Martin – Có phải đạo Kitô phi lý không?

Có phải đạo Kitô phi lý không?

Is Christianity Absurd?
Michael Martin









Lời người dịch

Michael Martin là một trong những khuôn mặt tiêu biểu[1] cho giới triết gia học giả vô thần hiện nay đang giảng dạy trong các trường đại học nước Mỹ. Ngoài những luận văn chuyên khoa triết lý, các sách giáo khoa, hay tham khảo cho môn Triết, Triết lý tôn giáo và Tôn giáo đối chiếu, ông cũng viết những luận văn tuy ngắn, nhưng rất giá trị, những văn bản triết lý hướng đến độc giả phổ thông – mà tôi tạm gọi là “triết học cho những người không học triết“.

Những ai muốn đào sâu các nội dung này – xin mời đọc hai tác phẩm cơ bản của ông do nhà xuất bản trường đại học Temple, Philadelphia xuất bản: Atheism: A Philosophical Justification (1990), The Case Against Christianity (1991). Đặc biệt về chủ đề đạo đức của những người vô thần đối mặt với truyền thống và huyền thoại Judaeo-Christian, ông có tác phẩm Atheism, Morality and Meaning. Tác phẩm của ông, chẳng những chỉ uyên bác thuyết phục, nhưng bảo vệ và xây dựng một triết lý và cơ sở đạo đức vô thần, đem lại phần thưởng hứng khởi thú vị cho người đọc.


Saturday, November 28, 2009

Thiên đường dậy sóng hoài nghi


Thiên đường dậy sóng hoài nghi

Problems with Heaven (1997)
Michael Martin




Lời người dịch

Ai ai cũng muốn lên thiên đường, nhưng chẳng ai muốn chết cả [1]

Câu hát đó đập vào tôi ngay lần nghe đầu tiên, cách nay đã rất lâu, nên đến giờ đã quên mất cả tên người hát, và cũng quên cả các phần sau. Một nghịch lý của các tôn giáo phương Tây: Chết và Thiên đường. Phải chết xong đã, mới thấy cánh cửa vào đất Hứa. Thế nên Thiên đường vẫn là một hoài nghi – vì chưa chết nên không thể biết thực hư, nhưng chết rồi, thực hư không thể nói, mà cho cùng, với người chết, biết còn chăng chuyện thực hư. Vậy nên, thiên đường chỉ là để cho người sống bàn bạc, mơ tưởng, và nhất là rao giảng.


Nếu chỉ là giấc mộng đêm của con người như phương Đông nhìn lên trăng, mơ chốn Thiên thai, hay Bồng lai, tiên cảnh, có sáo trúc êm, có dáng hằng tuyệt mỹ, ...nó vô hại, nên thơ, đẹp đẽ, và lại còn đầy hứng cảm nghệ thuật.

Nhưng lớn mạnh hơn mộng đêm, đến những khát khao bản năng của tranh sống ngày, là mộng ngày; ở trong không gian của những hữu hạn nên thèm ước cái không gian khác chứa đầy vô hạn, nghèo khó nên ước giàu sang, xấu xa nên ước đẹp đẽ, khổ đau nên ước hạnh phúc,… mộng ngày là khát khao bản năng nên thường chỉ tìm đến số, đến lượng để thỏa mãn đói khát, bỏ quên hay coi nhẹ giá trị phẩm chất. Thế nên chúng ta nghe kể thiên đường có vô tận những cái này, vô hạn những thứ kia, vô cùng những điều nọ. Mọi thứ đều đong bằng “bao nhiêu là…”. Con người khát quá, thèm quá, muốn quá, tự nhiên đấy thôi. Nhưng những ước ao tự nhiên và thơ ngây đó của con người đã bị những phù thuỷ tôn giáo vẽ vời thành một Thiên đường dẫn dụ. Và bức tranh mới vụng về làm sao, đầu đuôi bất nhất. (Đọc bài này của Michael Martin) Tựa những lời hứa dỗ dành con trẻ, nay thế này, mai thế khác, sau cùng có ai ngắm kỹ lại, với chút suy nghĩ thấy ngay bức tranh Thiên đường rách bươm, vá víu, chắp nối, có rất nhiều lúc vội vàng nên điều hứa sau đã trái nghịch với lời hứa hấp tấp trước. Thiên đường có lẽ chẳng có thể ví được với một bức tranh, tôi có rộng rãi quá chăng? Ở chính phương Tây này, người ta chẳng vẫn gọi nó trần trụi là một cái bánh vẽ trên trời đó sao. Là bánh thì không, nhưng có là tranh đi nữa, nhưng chấp vá, nên có bao giờ thoả được dẫu một chút mộng chân thực con người.


Friday, November 27, 2009

Bertrand Russell - Lịch sử Triết học phương Tây - (2)


Bertrand Russell

Lịch sử Triết học phương Tây


Quyển Một – Triết học Cổ thời
Phần I – Các triết gia trước Socrates



Chương I – Sự bừng dậy của Văn minh Hylạp

Trong xuốt lịch sử, không có gì thật ngạc nhiên và khó khăn đến thế, khi giải thích sự bừng dậy đột nhiên của văn minh tại Hylạp. Phần lớn những gì làm nên văn minh đã có mặt hàng nghìn năm ở Egypt và ở Mesopotamia, và đã từ đấy lan ra các nước láng giềng. Nhưng vẫn còn thiếu một số yếu tố cho đến khi Hylạp đem thêm. Những gì họ đạt được về mỹ thuật và văn chương thì quen thuộc với mọi người, nhưng những gì họ đã làm được trong lĩnh vực trí thức thuần tuý thì siêu việt, lại còn khác thường hơn. Họ phát minh toán học [1], và khoa học và triết học; họ đầu tiên viết sử, thay vì chỉ là các biên niên, họ bàn luận rộng rãi về bản chất thế giới và những mục đích của đời người, không bị xiềng xích tín điều thừa hưởng nào trói buộc. Những gì đã xảy ra thật xửng xốt quá sức tưởng tượng đến nỗi, đến tận gần đây, người ta hài lòng chỉ nhìn và nói một các huyền bí về thiên tài Hylạp. Tuy vậy, sự phát triển của Hylạp có thể hiểu được qua ngôn từ khoa học và cũng đáng công làm như thế.

Thần học và Phản chứng



Thần học và Phản chứng

Theology and Falsification (1950)
Antony Flew






Lời người dịch

Có thể phản chứng các tin tưởng tôn giáo như Kitô giáo không? Nếu không, tại sao và có nghĩa gì?

Bài viết ngắn này của Antony Flew, triết gia nước Anh– ra đời từ 1950– và đến nay vẫn được nhắc nhở, đọc lần đầu tại Socratic Club, Oxford. Ông trình bày: Một điều gì đó không thể chứng minh là đúng– nếu không thể định rõ các đòi hỏi tất yếu và đủ, để chứng minh ngược lại– nó là sai. Dùng luận lý của triết lý khoa học này, để chỉ ra tính chất không thể chứng minh là sai (Falsification) của các phát biểu thần học Kitô. Trên quan điểm hoài nghi vô thần, ông thấy chúng luôn luôn chạy trốn sự thật vì có lẽ chúng không chứa một sự thật nào. Vì thế, các câu như – “Gót hiện hữu”, “Gót là yêu thương”,v.v…Vì không thể chứng minh là sai, nên không thể biết có đúng không, vậy thái độ là không thể tin và quan điểm là có lẽ chúng dối trá.

Tuesday, November 10, 2009

Bertrand Russell - Lịch sử Triết học phương Tây (1)



History of Western Philosophy
Bertrand Russell
Lịch sử Triết học phương Tây







Chương Dẫn Nhập

Những khái niệm [1] về đời sống và thế giới mà chúng ta gọi là “triết lý”, là sản phẩm của hai thành tố: một, thừa hưởng những khái niệm tôn giáo và đạo đức; hai, một thứ nghiên cứu có thể gọi là “khoa học”, dùng từ này với nghĩa rộng nhất của nó. Hai thành tố này có phần tỉ lệ khác nhau rất xa trong những hệ thống của mỗi triết gia, nhưng sự có mặt của cả hai, trong chừng mực ít nhiều, biểu thị đặc điểm của triết học.

“Triết học” là từ vẫn đã được dùng với nhiều nghĩa, đôi khi rộng rãi hơn, đôi khi chật hẹp hơn. Tôi đề nghị dùng nó với nghĩa rất rộng, mà giờ đây tôi sẽ gắng giải thích.

Triết học, như tôi sẽ hiểu từ này, là thứ gì đó đứng trung gian giữa gót học [2] và khoa học. Giống gót học, nó gồm có những luận đoán về những nội dung, cho đến nay kiến thức xác định vẫn không chắc đã đạt được; nhưng giống khoa học, nó kêu gọi đến lý trí con người hơn là đến thẩm quyền, dù của truyền thống hay của sự vén lên cho thấy [3]. Tất cả những kiến thức xác định – như vậy, tôi phải đồng ý – thuộc về khoa học; tất cả những giáo điều như những gì vượt quá tầm kiến thức xác định, thuộc về gót học. Nhưng ở giữa gót học và khoa học, có một Vùng-Đất-không-thuộc-của-ai, bị đặt vào tình thế chịu tấn công từ cả hai phía, cái Vùng Đất không của ai này là triết học. Hầu hết tất cả những câu hỏi thật bận tâm những tâm trí băn khoăn nhất, nhưng khoa học không thể giải đáp, và những trả lời tự tín của những nhà gót học xem ra không còn thuyết phục nữa như trong những thế kỷ trước. Có phải thế giới phân thành tinh thần và vật chất? Và nếu thế, tinh thần là gì và vật chất là gì? Có phải tinh thần tuỳ thuộc vật chất, hay phải chăng nó có những khả năng độc lập? Vũ trụ có thuần-một [4] hay có một cứu cánh nào không? Có phải nó đang tiến hoá hướng về một mục đích nào đó không? Thực có “luật tự nhiên” không, hay chúng ta tin vào chúng chỉ bởi lòng yêu trật tự bẩm sinh của chúng ta? Có phải con người, như những nhà phi hành vũ trụ nhìn xuống thấy, là một nhúm carbon ô nhiễm và nước, đang bò vật vã trên một hành tinh nhỏ bé và không quan trọng? Hay anh ta là như những gì anh xuất hiện với Hamlet? Hay là cùng cả hai? Có chăng một lối sống là cao thượng và lối khác là cơ bản, hay tất cả mọi lối sống đều là vô vọng? Nếu có một lối sống cao thượng, nó gồm những gì? Và làm thế nào chúng ta đạt được? Để đáng được đề cao, Thiện phải là vĩnh cửu hay không? Hay nó vẫn đáng thực hiện nếu dầu vũ trụ đang tất yếu tiến dần đến cái chết? Có cái gọi là khôn ngoan đó không, hay nó xem dường lại chỉ là sự đãi lọc tối thượng của điên rồ? Những câu hỏi như thế, lời đáp không đến từ những phòng thí nghiêm. Khoa gót học vẫn tự xưng có những trả lời, tất cả đều chắc chắn lắm lắm: nhưng sự quá quả quyết này làm những đầu óc mới thời nay nhìn chúng ngờ vực. Sự nghiên cứu những câu hỏi này, nếu không phải là sự trả lời chúng, là công việc của triết học.

Tại sao, rồi bạn có thể hỏi, phí thì giờ vào những vấn đề không giải quyết được như thế? Người ta có thể trả lời câu hỏi này như một sử gia, hay như một cá nhân đối mặt với sự khiếp hãi của sự cô đơn không cùng giữa vũ trụ bao la. [5]

Lời đáp của sử gia, đến mức khả năng của tôi có thể đưa ra, sẽ xuất hiện dọc tiến trình tác phẩm này. Kể từ khi con người trở nên có khả năng luận đoán tự do, hành động của họ, về vô số phương diện quan trọng, tùy thuộc trên những lý thuyết của họ về thế giới và đời người, về cái gì là tốt và cái gì là xấu. Điều này cũng đúng trong thời nay như trong bất kỳ thời trước nào. Để hiểu một thời đại hay một quốc gia, chúng ta phải hiểu triết học của nó, và để hiểu triết học của nó, chính chúng ta phải ở mức nào đó là những triết gia. Ở đây có một tương quan nhân quả qua lại: những hoàn cảnh sống của con người thực tạo nhiều phần quyết định vào triết lý của họ; nhưng, ngược lại, triết lý của họ cũng thực tạo nhiều phần quyết định vào hoàn cảnh sống của họ. Ảnh hưởng lẫn nhau này qua suốt những thế kỷ sẽ là đề tài của những trang sau đây.

Cũng còn có, tuy nhiên, một câu trả lời cá nhân hơn. Khoa học bảo chúng ta những gì chúng ta có thể biết, nhưng những gì chúng ta có thể biết thì ít ỏi, và nếu chúng ta quên rằng bao nhiêu những gì chúng ta không thể biết, chúng ta trở nên thiếu nhạy cảm với nhiều điều có tầm quan trọng rất lớn lao. Gót học, một mặt, dụ dẫn một tin tưởng giáo điều rằng chúng ta có hiểu biết ở những chốn sự thực chúng ta có mê muội, và làm như thế gây nên một thứ bất kính không thích đáng hướng về vũ trụ. Không chắc chắn, đối diện với hy vọng sống động và sợ hãi, thì đau lòng, nhưng chúng ta phải chịu đựng nếu chúng ta muốn sống không nhờ vào những chuyện thần tiên dỗ dành an ủi. Cũng không phải là tốt nếu quên đi những câu hỏi triết học đặt ra, hay tự nhủ chúng ta đã có những lời đáp không hồ nghi gì nữa. Giáo dục sao cho sống với sự không chắc chắn, mà lại vẫn không bị tê liệt vì sự lưỡng lự, có lẽ là điều chính yếu mà triết học, trong thời đại chúng ta, vẫn còn có thể làm được cho những ai theo môn học này.

Triết học, như môn học khác biệt với gót học, đã bắt đầu ở Hylạp vào thế kỷ thứ sáu TCN. Sau khi chảy hết dòng qua thời cổ đại, nó lại bị gót học nhận chìm khi đạo Kitô dấy lên và Lamã suy tàn. Giai đoạn lớn thứ hai của nó, từ thế kỷ mười một đến thế kỷ mười bốn, bị nhà thờ Kitô chế ngự, trừ thời gian một ít nổi loạn lớn, như thời hoàng đế Frederick II (1195-1250) [6]. Sự mù rối, đã tăng dày đến mức cao nhất ở thời kỳ Cải cách, đem giai đoạn này đến chấm dứt. Giai đoạn thứ ba, từ thế kỷ mười bảy đến ngày nay, khoa học chế ngự, hơn tất cả hai giai đoạn trước; những tin tưởng tôn giáo truyền thống tuy còn quan trọng, nhưng cảm thấy cần biện hộ, và chúng đã sửa đổi ở những điểm khoa học như buộc phải có nhu cầu. Ít triết gia của giai đoạn này còn là chính thống từ một quan điểm Kitô, và trong những nghiên cứu của họ, Nhà nước thế tục quan trọng hơn Hội Nhà thờ.

Ràng buộc xã hội và tự do cá nhân, như khoa học và tôn giáo, ở trong một trạng thái xung đột hay thỏa hiệp bực bội qua suốt hết giai đoạn. Ở Hylạp, ràng buộc xã hội đã bền chặt bằng sự trung thành với Nhà nước Đô thị [7]; ngay cả Aristotle, dù trong đời ông, Alexander [8] đã làm nhà nước đô thị thành lỗi thời, không thể thấy điểm đáng khen nào trong bất kỳ loại chính thể nào khác. Mức độ tự do một cá nhân bị rút ngắn bởi nhiệm vụ với Đô thị rất khác rộng, Ở Sparta anh ta có tự do cũng ít ngang như ở Germany ngày nay, hay ở Russia; Ở Athens, dẫu thỉnh thoảng có xảy ra ngược đãi, nhưng trong thời kỳ tốt đẹp nhất, những công dân của nó có tự do rất khác thường đối với sự hạn chế do Nhà nước áp đặt. Tư tưởng Hylạp xuống tận thời Aristotle chi phổi bởi sự trọn hiến tôn giáo và ái quốc dâng cho nhà nước Đô thị. Hệ thống đạo đức của nó đã thích ứng với đời sống của công dân đô thị và có một yếu tố chính trị lớn. Khi người Greek trở thành công dân, trước của Macedonians, và rồi sau của Romans, khái niệm phù hợp với những ngày còn độc lập thành không áp dụng được nữa. Điều này tạo nên, một mặt, một sự đánh mất khí lực qua sự đứt nối với truyền thống, và một mặt khác, đạo đức nghiêng nhiều về cá nhân hơn và ít đi về xã hội. Tư tưởng những triết gia Stoics [9] về đời sống đoan chính như một mối liên hệ của linh hồn với God, hơn là của công dân với Nhà nước. Như thế, họ lót đường cho đạo Kitô, đạo ấy, giống như phái Stoicism [10], khởi nguyên là phi chính trị, bởi vì, trong suốt ba thế kỷ đầu của nó, những tín đồ Kitô đã tránh không tạo ảnh hưởng với chính quyền. Kết hợp xã hội, trong thời gian sáu thế kỷ rưỡi, từ Alexander đến Constantine, đã vững chặt, không vì triết lý và không vì trung thành cổ truyền, nhưng bởi vũ lực, trước do những đạo quân, rồi sau là do quản lý hành chính. Quân đội Lamã, đường xá Lamã, luật lệ Lamã, và quan chức Lamã được tạo ra trước và rồi bảo vệ một Nhà nước trung ương tập quyền hùng cường. Không có gì được kể là do triết học Lamã góp phần, vì không có triết học Lamã.

Trong thời kỳ dài này, những tư tưởng Hylạp thừa hưởng từ thời tự do đã trải qua một quá trình biến đổi dần dần. Một vài những ý tưởng cũ, đáng kể là những ý tưởng chúng ta nên xem là đặc biệt mang tính tôn giáo, đã dành được vị thế tương đối quan trọng; những gì khác, nhiều duy lý hơn, đã bị bỏ rơi vì chúng không còn hợp nữa với tinh thần của thời đại. Qua cách này, những người ngoại đạo [11] về sau, đã tỉa bớt đi truyền thống Hylạp cho đến khi nó trở thành thích hợp cho sự sát nhập vào chủ nghĩa Kitô.

Đạo Kitô làm phổ thông một quan điểm quan trọng, vốn đã tiềm ẩn trong giảng dạy của những nhà Stoics, nhưng xa lạ với tinh thần chung của cổ thời – Tôi muốn nói đến, quan điểm cho rằng bổn phận của một người với God thì bức bách hơn là với Nhà nước [12]. Quan điểm này – rằng “chúng ta phải nên tuân lệnh God hơn là lệnh Người”, như Socrates và những tông đồ khai đạo Kitô [13] nói - sống xót qua cuộc cải đạo của Constantine, vì những hoàng đế theo đạo Kitô trước đó là theo giáo thuyết của Arius hay nghiêng về giáo thuyết Arianism [14]. Khi những hoàng đế trở thành theo chính thống giáo, nó rơi vào đình chỉ. Trong đế quốc Byzantine, nó vẫn âm ỷ, và cũng như thế ở đế quốc Russian kế tục, vốn tiếp nhận đạo Kitô từ Constantinople [15]. Nhưng ở phương Tây (châu Âu), nơi những hoàng đế Catô đã hầu hết bị những nhà chinh phục dị giáo dân Rợ [16]chinh phục thay thế ngay (trừ ra, trong những phần của xứ Gaul), sự ưu thắng của lòng trung thành tôn giáo với chính trị còn tồn tại, và trong vài chừng mực nào đó, nó hiện vẫn còn tồn tại.

Cuộc xâm lăng của những dân Rợ đem đến chấm dứt, trong sáu thế kỷ, nền văn minh Tây Âu. Ở Ireland, nó thoi thóp đến khi người Danes phá hủy vào thế kỷ thứ chín; trước khi tắt ngấm, nó sản xuất được một khuôn mặt trứ danh, Scotus Erigena [17] . Ở đế quốc Đông Lamã [18], văn minh Hylạp, trong một dạng khô héo như trong những nhà bảo tàng, sống xót, đến tận khi Constantinople xụp đổ năm 1453, nhưng không có gì quan trọng cho thế giới xuất phát từ Constantinople, ngoại trừ một truyền thống nghệ thuật và những điển luật Lamã của Justin [19].

Trong thời kỳ đen tối, từ cuối thế kỷ thứ năm cho đến giữ thế kỷ thứ mười một, thế giới Tây La [20] trải qua vài thay đổi rất đáng chú ý. Sự xung đột giữa bổn phận với God và với Nhà nước do đạo Kitô đưa đến, khoác dạng của xung đột giữa hội Nhà thờ và nhà vua. Pháp quyền tăng lữ của vị vua chiên trải rộng khắp Ý, Pháp, và Spain, Great Britain và Ireland, Germany, Scandinavia, và Poland. Lúc đầu, ngoài Ý và miền nam nước Pháp, sự kiểm xoát những giám mục và tu viện trưởng còn rất lỏng lẻo, nhưng từ thời vua chiên Gregory VII (cuối thế kỷ XI) thành thực sự và hiệu quả. Kể từ thời đó trở đi, tăng lữ, khắp tây Âu, hợp thành một tổ chức duy nhất dưới quyền trực tiếp từ Rome, tinh khôn tìm kiếm quyền lực, và không ngưng nghỉ, và thường toàn thắng, mãi đến tận năm 1300, trong những tranh chấp với những nhà cầm quyền thế tục. Sự xung đột giữa Nhà thờ và Nhà nước đã không chỉ là một xung đột giữa tăng lữ và thế tục; nó cũng đã là một hồi phục sự xung đột giữa thế giới Mediterranean [21] và những dân Rợ phía Bắc [22]. Sự thống nhất của nhà thờ lập lại sự thống nhất của đế quốc Lamã; nghi thức tế lễ của nó là Latin, và những khuôn mặt chủ chốt hầu hết là người Ý, Spanish, và nam Pháp. Giáo dục của họ, khi giáo dục hồi sinh lại, là cổ điển; những ý niệm của họ về pháp luật và chính quyền đã có nghĩa lý với Marcus Aurelius hơn là với những vua chúa đương thời. Nhà thờ biểu hiện trong một, cả sự tiếp nối với quá khứ và những gì là văn minh nhất của hiện tại.

Quyền lực thế tục, ngược lại, nằm trong tay những nhà vua và quí tộc dòng dõi Teutonic [23], họ gắng sức bảo tồn những gì họ có thể, những cơ chế đã đem ra từ trong những khu rừng xứ Germany. Quyền lực tuyệt đối thì xa lạ với những tổ chức đó, và cũng thế, những gì dưới mắt những nhà chinh phục đầy khí lực đó, xem ra giống như một pháp lệ cùn nhạt và vô tinh thần. Nhà vua phải chia quyền với quí tộc phong kiến, nhưng tất cả giống nhau, đều đợi có dịp bùng vỡ những đam mê trong dạng của chiến tranh, giết chóc, cướp phá, hay cưỡng hiếp. những quân vương rồi có thể ăn năn, bởi họ thành tâm đạo hạnh, và, sau cùng, ăn năn chính nó là một dạng của đam mê. Nhưng Nhà thờ không bao giờ có thể tạo trong họ được sự điều hoà im lặng của ứng xử tốt lành mà một chủ nhân thời mới đòi hỏi, và thường có được, từ những nhân viên. Chinh phục thế giới để làm gì nếu họ không được say và giết và yêu như nhiệt tình đẩy họ? Và tại sao, với những đạo quân của họ đầy những hiệp sĩ kiêu dũng, họ lại phải chịu phục lệnh những kẻ mọt sách, nguyện sống độc thân và chẳng có một lực lượng vũ trang nào cả! Mặc cho tăng lữ không chấp thuận, họ duy trì những cuộc đấu kiếm tay đôi và phân án bằng lối đánh nhau đến thua hay chết [24], và họ phát triển thi đấu [25] và tình yêu hiến dâng [26]. Đôi khi, ra tay giận dữ, đến ngay cả những nhân vật nổi tiếng xuất xắc trong hội nhà thờ cũng vẫn bị họ giết chết.

Tất cả lực lượng vũ trang đứng về phe những nhà vua, ấy vậy mà Nhà thờ đã thắng trận. Nhà thờ thắng, một phần vì nó hầu như độc quyền nắm trọn giáo dục, một phần vì những nhà vua liên miên chinh phạt lẫn nhau, nhưng phần chính, với rất hiếm ngoại lệ, là những kẻ trị vì lẫn thần dân đều tin tưởng thâm sâu trong lòng là nhà thờ nắm quyền lực của những chìa mở khoá. Nhà thờ có thể quyết định một vị vua sẽ vĩnh viễn sống trong hell [27] hay trên thiên đường. Nhà thờ có thể miễn xá cho đối tượng của nguyện trung thành phá thệ, và như thế tạo mầm nổi loạn. Nhà thờ, hơn thế nữa, tượng trưng cho trật tự thay vì tình trạng vô chính phủ, và như thế chiếm được sự ủng hộ của giai cấp thương nhân đang lên. Ở nước Ý, đặc biệt, yếu tố kể sau cùng này là yếu tố định đoạt.

Cố gắng của những dân tộc Teutonic để giữ lấy ít nhất một phần độc lập với Nhà thờ, diễn tả không chỉ trong chính trị mà cũng còn trong mỹ thuật, truyện hiệp sĩ [28], tinh thần mã thượng [29] và chiến tranh. Trong thế giới trí thức, nó biểu lộ về chính nó rất ít, vì giáo dục đã hoàn toàn thu trong tay giới giáo sĩ. Triết lý bày ra là của thời Trung Cổ không phải là một tấm gương phản chiếu trung thực thời đại, nhưng chỉ những gì qua suy nghĩ của một phe. Trong giới tăng lữ, tuy thế - đặc biệt những thày dòng Franciscan [30] - có một số, do những lý do khác nhau, đã bất đồng với vị vua chiên. Ở nước Ý, hơn thế, văn hoá lan ra ngoài, đến giới thế tục vài thế kỷ sớm hơn là so với những miền bắc rặng núi Alps, hoàng đế Frederick II, người đã cố tìm một tôn giáo mới, đại diện cho mặt cực đoan của văn hoá phản-vua-chiên. Thomas Aquinas, chào đời tại vương quốc Naples nơi hoàng đế Lamã Frederick II là chúa thượng, tồn tại cho đến ngày nay là đại diện cổ điển của triết lý của vua chiên [31]. Dante, khoảng năm mươi năm sau đó, tạo thành được một tổng hợp, và đưa ra chỉ một trưng bày cân bằng về toàn bộ thế giới những ý tưởng trung cổ.

Sau Dante, do cả hai lý do chính trị và trí thức, tổng hợp triết lý trung cổ bị đổ vỡ. Nó đã có, lúc còn sống, một phẩm chất của ngăn nắp và rút nhỏ hoàn toàn; những gì mà hệ thống kể đến, được xếp chỗ chính xác trong tương quan với những nội dung khác của cái vũ trụ rất hạn hẹp của chúng. Nhưng cuộc Đại ly giáo [32], vận động hội đồng giám mục [33] và chế độ những vua chiên thời Phục hưng đã đưa đến thời Cải cách, nó phá vỡ sự thống nhất của thế giới Kitô [34] và lý thuyết kinh viện [35] về chính quyền lấy vị vua chiên làm tâm điểm. Trong thời kỳ Phục hưng, kiến thức mới, cả về cố điển lẫn về mặt đất, làm con người mệt mỏi với những hệ thống, nó cảm thấy chúng như những nhà tù tâm trí. Thiên văn học theo Copernic gán cho mặt đất và con người một vị thế khiêm tốn hơn là đã có trong lý thuyết Ptolemé. Niềm vui thích trong những sự kiện mới tìm thấy xảy ra trong giới trí thức, vui thích trong lý luận, trong phân tích, trong hệ thống hoá. Mặc dù trong mỹ thuật, thời Phục hưng vẫn còn trật tự, trong tư tưởng, nó thích một sự lớn lao và hỗn loạn có kết quả. Trong hướng này, Montaigne là người tiêu biểu nhất của thời đại.

Trong lĩnh vực lý thuyết chính trị, giống như trong mọi thứ khác chỉ trừ mỹ thuật, có trật tự xụp đổ. Thời Trung cổ, mặc dầu trong thực tế náo loạn, nhưng một say mê với tính hợp pháp và một lý thuyết rất chính xác về quyền lực chính trị đã chi phối nó về tư tưởng. Tất cả quyền lực bắt nguồn từ God; vị này trao quyền về những gì linh thiêng cho vị vua chiên Lamã [36] và những gì có nội dung trần tục cho hoàng đế Lamã. Nhưng cả vị vua chiên lẫn Hoàng đế đều mất quan trọng như nhau, ở thế kỷ mười lăm. Vị vua chiên Lamã trở thành chỉ như một trong những vương hầu Ý, dấn mình vào trò tranh quyền chính trị, vô liêm sỉ và phức tạp không thể tưởng được ở nước Ý. những triều đình quốc gia mới lập ở Pháp, Spain, và Anh, trong lĩnh thổ của mình, đã có một quyền lực mà cả vị vua chiên Lamã lẫn hoàng đế Lamã không thể can dự. Nhà nước quốc gia, dựa rất nhiều vào sức mạnh thuốc súng, thu được ảnh hưởng trên suy tưởng và tình cảm con người ta, và đã dần dần phá huỷ những gì còn lại của tin tưởng Lamã vào sự nhất thống của văn minh.

Náo loạn chính trị này thấy diễn tả trong Prince [37] của Machiavelli. Khi không nguyên tắc hướng dẫn nào có mặt, chính trị trở thành một tranh giành trắng trợn quyền hành. Prince đưa ra những lời khuyên sắc bén ngõ hầu chơi trò này sao cho thành công. Những gì đã xảy ra trong thời đại hoàng kim ở Hylạp, lại xảy ra lần nữa ở nước Ý Phục hưng: những câu thúc đạo đức cổ truyền biến mất, vì chúng được coi như dính líu với mê tín; phá xiềng giải phóng làm cá nhân sinh động và sáng tạo, tạo được một bùng nở hiếm lạ nhiều thiên tài; nhưng độc tài và phản trắc vốn là hậu quả không tránh được của suy đồi luân lý, làm tập thể dân Ý thành bất lực, và họ ngã quị, giống như dân Hylạp, dưới sự thống trị của những quốc gia kém văn minh hơn họ, nhưng không nghèo đến như họ về sự chặt chẽ trong xã hội.

Tuy nhiên, hậu quả kém thảm khốc hơn trường hợp của Hylạp, vì những quốc gia mới lập, trừ Spain, tự chứng tỏ họ cũng có khả năng như dân Ý đã có, qua những thành tựu lớn lao.

Kể từ thế kỷ mười sáu trở đi, phong trào Phục hưng thống trị lịch sử tư tưởng châu Âu. Phục hưng là một vận động đa diện và phức tạp, và nó thành công nhờ rất nhiều nguyên nhân. Chính yếu, nó là sự khởi dậy của những quốc gia phía bắc chống lại sự hồi phục thống trị của Lamã. Tôn giáo là sức mạnh đã làm yếu phương bắc, nhưng tôn giáo ở nước Ý đã suy đồi: ngôi vua chiên vẫn tồn tại như một cơ cấu, và thu rút một tài sản do cống hiến khổng lồ từ Germany và England, nhưng những quốc gia này, vẫn còn sùng đạo, cảm thấy không thể nào tôn kính những vua chiên họ Borgias [38] và dòng Medicis [39], những ông này tuyên xưng tẩy rửa linh hồn cho khỏi sa vào hoả ngục để đổi lấy tiền mặt, rồi tung hê trong xa hoa và vô đạo. những động cơ quốc gia, động cơ kinh tế, động cơ đạo đức, tất cả hợp lại làm vững mạnh cuộc khởi dậy chống Lamã. Hơn thế nữa, những vương hầu nhanh chóng nhận ra rằng, nếu hội nhà thờ trong lãnh thổ của họ trở nên chỉ là quốc gia, họ có thể thành kềm chế nó được, và như thế trở nên mạnh mẽ uy quyền hơn nhiều trong nước nhà mình thay vì phải chia quyền quản trị với vua chiên Lamã. Vì tất cả những lý do này, cuộc đổi mới gót học của Luther [40] được những vua chúa lẫn dân chúng hoan nghênh suốt hết phần lớn bắc châu Âu.

Hội Nhà thờ Catô [41] đã kết thụ từ ba nguồn. Lịch sử thần linh của nó từ Dothái, gót học của nó từ Hylạp, tổ chức chính quyền và điển luật của nó, ít nhất một cách gián tiếp, đã là từ Lamã. Cuộc Cải cách Thệ Phản [42] chối bỏ những yếu tố gốc Lamã, làm dịu đi những yếu tố gốc Hylạp và làm lớn mạnh thêm những yếu tố gốc từ đạo Dothái. Như thế, nó đã cộng tác với những lực lượng quốc gia đang tháo gỡ công trình kết hợp xã hội vốn đã là thành quả trước tiên của Đế quốc Lamã và rồi kế sau của Nhà thờ Lamã. Trong giáo thuyết Catô, sự vén lên cho thấy thánh linh không chấm dứt nơi trang cuối văn bản kinh Thánh, nhưng nó còn tiếp tục từ thời này qua thời khác qua trung gian là chính hội Nhà thờ, nếu ai có ý kiến gì, kẻ ấy có bổn phận phải trình lên hội Nhà thờ. Tin lành, ngược lại, không nhận Nhà thờ (Lamã) như là một trung gian truyền thông của sự vén lên cho thấy; chân lý chỉ có thể tìm trong thánh Kinh và qua đó mỗi người có thể tự tìm cho mình. Nếu người ta diễn dịch có khác nhau, không có thiêng liêng bổ nhiệm thẩm quyền nào quyết định sự bất đồng. Trong thực tế, Nhà nước xưng quyền trước kia thuộc về Nhà thờ, nhưng đây là một sự tiếm quyền. Trong lý thuyết đạo Tin lành, không thể có vai trò trung gian trần tục chen giữa linh hồn con người và Gót. [43]

Các hậu quả của sự thay đổi này thật trọng đại. Chân lý thôi không còn khẳng định qua sự phải tham vấn những thẩm quyền nữa, nhưng bằng suy tưởng hướng nội. Có một khuynh hướng, phát khởi nhanh chóng, hướng đến chủ nghĩa vô chính phủ trong chính trị, và trong tôn giáo hướng về chủ nghĩa thần bí, vốn luôn luôn khó khăn xếp chúng vào sao cho vừa với khuôn khổ cấu trúc Catô truyền thống. Đã xuất hiện không phải chỉ một đạo TinLành [44], nhưng vô số những giáo phái; không phải chỉ một triết lý đối lại triết lý kinh viện [45], nhưng nhiều bằng con số những triết gia, không như trong thế kỷ mười ba, một Hoàng đế kình chống vị vua chiên, nhưng một số đông đảo những nhà vua dị giáo [46]. Hậu quả, trong tư tưởng cũng như trong văn chương, là tiếp tục dấn sâu thêm vào chủ nghĩa chủ quan [47], đầu tiên hoạt động như một cuộc giải phóng toàn bộ khỏi sự nô lệ tinh thần, nhưng vững tiến thêm nữa hướng đến một sự cô lập cá nhân, không gần gũi với trong lành xã hội.

Triết học hiện đại bắt đầu với Descartes, với ông điều chắc chắn cơ bản là sự hiện hữu và những suy tưởng của chính ông, từ đó luận đoán ra được thế giới khách thể. Đây chỉ là giai đoạn tiên khởi trong một quá trình phát triển, từ Berkeley và Kant, đến Fichte, với vị này tất cả chỉ là sự phóng chiếu ra ngoài của cái tôi [48]. Đây đã là một sự mất trí [49], và, từ cực đoan này, triết học đã vẫn cố gắng toan thử, kể từ đó, trốn chạy vào cái thế giới thường ngày thông dị [50].

Cùng với chủ nghĩa chủ quan trong triết học, chủ nghĩa vô chính phủ trong chính trị đi sánh đôi. Đã ngay đã trong thời Luther còn sống, không hoan nghênh và cũng không thừa nhận những kỷ luật đã phát triển nên chủ thuyết của giáo phái Anabaptism [51], giáo phái này, đã ngự trị thành phố Munster [52] trong một thời gian. Những người Anabaptists bác bỏ hết luật lệ, vì họ chủ trì rằng kẻ thiện lành sẽ được chúa Thánh thần [53] hướng dẫn từng giây từng phút, vốn không thể bị ràng trói với những khuôn thức. Từ tiền đề này họ đi đến chủ nghĩa cộng sản và tình trạng giao hợp hỗn tạp; do thế, sau một cuộc kháng cự anh dũng, họ đã bị diệt sạch. Nhưng chủ thuyết của họ, trong một dạng mềm dẻo nhẹ nhàng hơn, lan sang đến Hòa lan, Anh quốc và nước Mỹ; về phương diện lịch sử, họ là nguồn gốc của giáo phái Quaker [54]. Một dạng kiên cường của tư tưởng vô chính phủ, không còn nối nữa với tôn giáo, nổi lên ở thế kỷ mười chín. Ở Nga, Spain và với mực độ kém hơn ở Ý, nó đã thành công đáng kể, và cho đến ngày nay, nó vẫn là con “ngáo ộp” của giới chức cơ quan nhập cảnh di dân nước Mỹ. Dạng tân tiến này, dù phản tôn giáo, vẫn giữ rất nhiều tinh thần của đạo TinLành thời sơ khai; khác biệt chính yếu của nó là chuyển hướng chống đối sang chính phủ dân sự, thay cho thù nghịch Luther đã chĩa vào những vị vua chiên.

Chủ quan, một khi buông lỏng, không thể chịu giam trong những giới hạn cho đến khi nó chạy hết dòng chảy của nó. Trong luân lý, đạo TinLành nhấn mạnh trên lương tâm cá nhân, yếu tính là vô chính phủ. Thói quen và tập quán đã rất mạnh đến nỗi, họa hiếm trừ những vụ bùng nổ như ở thành phố Munster, những kỷ luật về đạo đức của chủ nghĩa cá nhân tiếp tục hoạt động trong một cách thức vốn vẫn được công nhận là phẩm hạnh. Nhưng đây là một sự quân bình mong manh. Thế kỷ XVIII thờ “cảm tính” [55] bắt đầu phá nó vỡ xuống: một hành động được khâm phục, không vì những hệ quả tốt của nó, hay sự phù hợp của nó với một qui tắc đạo đức, nhưng vì những xúc cảm đã dấy nó thành. Từ thái độ này, phát triển sự tôn thờ anh hùng, như đã diễn tả trong Carlyle [56] và Nietzsche, and tôn thờ kiểu Byron [57] với những đam mê cuồng động bất kể loại gì.

Phong trào lãng mạn, trong mỹ thuật, trong văn chương và trong chính trị, đã gói trọn hết vào với cách chủ quan phán đoán con người này, không như những phần tử của một cộng đồng, nhưng là đối tượng mỹ thuật thích thú của chiêm ngưỡng mê mẩn. Những con hổ đẹp hơn những con cừu, nhưng chúng ta thích chúng ở sau những song sắt hơn. Lãng mạn tiêu biểu mở song sắt và khoái trá với những cú nhảy tráng lệ của con hổ khi vồ ăn sạch gọn con cừu. Anh cổ vũ người ta tưởng tượng họ là những con hổ, và khi anh ta thành công, những kết quả không trọn là hoàn toàn dễ chịu.

Chống lại những dạng điên rồ hơn của chủ nghĩa chủ quan [58], trong thời hiện đại đã có nhiều phản ứng. Đầu tiên, triết lý thoả hiệp một-nửa, chủ nghĩa tự do [59], nó cố gắng phân định vùng nào là thuộc cho chính phủ và vùng nào là thuộc cho cá nhân. Điều này bắt đầu, với Locke, ông là người đã chống đối sự “nồng nhiệt” – chủ nghĩa cá nhân của những người Anabaptists – cũng mạnh như với uy quyền tuyệt đối và nhắm mắt phục tùng truyền thống. Một nổi dậy qui mô hơn đưa đến chủ thuyết tôn thờ Nhà nước, nó gán cho Nhà nước vị thế của chủ thuyết Catô [60] đã gán cho Nhà thờ, hay đôi khi còn hơn nữa, cho Gót. Hobbes, Rousseau, và Hegel đại diện cho những trình tự khác nhau của lý thuyết này, và chủ thuyết của họ thể hiện thực tế trong Cromwell, Napoleon, and nước Germany ngày nay. Chủ thuyết Cộng sản, về lý thuyết, rất xa cách, khác biệt với những triết lý như thế, nhưng trong thực tế, đã được lèo lái đến một kiểu cộng đồng, rất tương tự với cái là những kết quả từ sự phụng thờ Nhà nước.

Xuyên suốt sự phát triển dài lâu này, từ năm 600 TCN cho đến ngày hôm nay, những triết gia đã phân thành những người muốn thắt chặt những mối ràng buộc xã hội và những người muốn nới lỏng chúng. Trước sự khác biệt này, những người khác liên kết với (một trong hai). Những người nghiêng về kỷ luật đã tán thành vài hệ thống, của giáo điều, hoặc mới hoặc cũ, và do đó đã buộc phải là, mức độ ít hay nhiều, thù địch với khoa học, bởi vì những giáo điều của họ không thể chứng minh thực nghiệm được. Tất cả chúng hoàn toàn không khác nhau chút nào, đều dạy rằng hạnh phúc thì không phải là điều tốt, nhưng “cao thượng” hay “anh hùng” mới là đáng chuộng. Họ có thiện cảm với những phần phi lý của bản tính con người, bởi họ đã cảm được lý do không ưa thích kết chặt xã hội. Những người nghiêng về tự do, một mặt khác, chỉ trừ những người theo chủ nghĩa cực đoan vô chính phủ, đã nghiêng về khoa học, về duy lợi, về duy lý, không chuộng gì những say mê mãnh liệt, và là thù nghịch của tất cả những dạng càng sâu đậm nào của tôn giáo. Sự đối kháng này đã có ở Hylạp trước khi khởi lên cái chúng ta nhận diện là triết học, và nó đã khá phân tỏ trong tư tưởng Hylạp từ thuở sớm sủa nhất. Đổi những dạng khác nhau, nó đã bền bỉ tồn tại cho đến ngày hôm nay, và không hồ nghi gì, rồi sẽ vẫn còn dai dẳng trong những thời kỳ tiếp đến.

Rõ ràng là mỗi phe của cuộc tranh chấp này – như tất cả đã bền bỉ xuyên suốt những giai đoạn thời gian dài – có một phần đúng và một phần sai. Kết hợp xã hội là cần thiết, và loài người đã chưa bao giờ thành công trong sự thúc buộc kết hợp bằng chỉ thuần vào những lý lẽ thuần lý. Tất cả mỗi cộng đồng đều phơi mở ra với hai mối hiểm nguy đối nghịch: Đóng cứng hóa thạch vì quá nhiều kỷ luật và tôn thờ truyền thống, về một mặt; về một mặt khác, lỏng lẻo phân tán, hoặc thành đối tượng cho ngoại xâm, qua sự lớn mạnh của một chủ nghĩa cá nhân và độc lập cá nhân, khiến hợp tác trở nên không thể có được. Nói chung, những nền văn minh quan trọng bắt đầu với môt hệ thống chắc cứng và mê tín, nới lỏng dần, và dẫn đến, ở một thời kỳ nào đó, một giai đoạn đầy những thiên tài lỗi lạc, trong khi cái tốt của truyền thống cũ vẫn còn và cái xấu thừa hưởng từ trong sự tan rã của chính nó còn chưa phát triển. Nhưng khi cái xấu tháo mở ra, nó dẫn đến hỗn loạn, từ đấy, không tránh được, đến một sự độc tài mới, sản xuất một tổng hợp mới bảo đảm bởi một hệ thống mới những giáo điều. Học thuyết của chủ nghĩa tự do là một cố gắng để thoát ra khỏi cái vòng xoắn không tận này. Yếu tính của chủ nghĩa tự do là một cố gắng củng cố một trật tự xã hội không dựa trên giáo điều phi lý, và bảo đảm sự ổn định không dùng đến nhiều câu thúc hơn là cần thiết cho sự bảo toàn cộng đồng. Cố gắng này có thể thành công hay không chỉ tương lai mới có thể xác định.

Bertrand Russell


Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Nov/2009)








[1] Chú thích về chú thích:

a. CTTG – đánh dấu những chú thích trong nguyên văn – của Russell trong bản tiếng Anh.
b. Những chú thích khác (và những sai lầm – nếu có) là của người dịch.

Conception: Khái niệm – 概念

[2] Theology: một ngành học tôn giáo có đối tượng là Gót và những tin tưởng liên hệ về Gót. Trước đây vẫn dịch theo Tàu là thần học (神学), nay dịch lại là gót học, cho sát với từ và ý gốc hơn.
[3] Revelation: vén lên cho biết; revelation: < Latin revelatio(n-), [< revelare ‘lay bare’ < reveal: < Old French revelation / reveler hay Latin revelare  < re: ‘again’ (lật lên, vén lên) + velum: ‘veil.’ (tấm màn): “revelatio” (hylạp: apocalypsis)] có nghĩa là: vén màn che lên; hoặc “manifestatio” (epiphaneia), có nghĩa là: tỏ lộ. Như vậy revelation gốc Latin ”revelare” (hay past part. “revelatus”) có nghĩa đen là: “vén lên cái màn che tối”, để cho thấy, cho biết một-gì đó (chân lý, hay sự linh thiêng).
Trước đây, vẫn dịch theo Tàu là mạc khải, hay mặc khải (mạc: cái màn), hay thiên khải, khải thị – 天啟,啟示 – (khải: giải bày, thị: bảo cho biết) – Nhưng Revelation, trong tôn giáo và gót học, nguyên nghĩa là sự để hở lộ ra một vài hình thức của sự thật hay kiến thức, thông qua giao tiếp với một gót hoặc thực thể siêu nhiên.
Như thế, nó đơn giản nói về một loại tri thức cá nhân và đặc biệt nhuốm tính chất huyền bí của tôn giáo, người nhận biết như được vén tấm màn che phủ lên, để thấy sự thực phơi bày cho riêng mình.  Bắt đầu ở đây, tôi tạm dịch nôm na dễ hiểu là: sự vén-lên-cho-thấy. Đây là một lý thuyết đặc biệt chỉ có trong thần học Judea-Kitô: Tin tưởng rằng có hiện tượng nhận biết chân lý như thế, không qua suy luận trí tuệ, hay kinh nghiệm; nhưng chỉ qua sự tiết lộ của thần linh, thứ chân lý tôn giáo được thần linh vén-lên-cho-thấy – Cái biết do sự vén-lên-cho-thấy có thể trực tiếp từ một thần linh (Gót) hay qua một tác nhân trung gian (một thiên thần). Một người có tiếp xúc may mắn như thế với thần linh siêu nhiên, nhận được tri thức qua sự vén-lên-cho-thấy như thế, trong đạo Juda, được gọi là một tiên tri (prophet). Cũng nói thêm, tri thức (thực sự là tin tưởng) sẽ tiếp nhận tuyệt đối bằng “đức tin” (faith) tôn giáo, không bằng phê phán lý trí, hay qua đối chiếu kinh nghiệm.
[4] Nguyên văn: Has the universe any unity. Câu hỏi của cả thiên văn lẫn triết học: Vũ trụ là thuần-một – một tập hợp chỉ có duy nhất một phần tử là chính nó – hay là tập hợp gồm có những phần tử độc lập? (Does the universe consist of independent objects, or is it a single unit?) – Trong bản văn khác (The Problems of Philosophy) Russell đặt câu hỏi rõ hơn: Has the universe any unity of plan or purpose, or is it a fortuitous concourse of atoms?
[5] cosmic loneliness: Sự cô đơn không cùng của mỗi con người trước cái chết giữ vụ trụ bao la (Existential loneliness) – trước, sau và vô cùng chỉ có mỗi chúng ta, từng người một, lần lượt đi vào cõi chết.
[6] Frederick II of Hohenstaufen: Hoàng đế Lamã nổi tiếng vì đã chống lại cả hai vua chiên Lamã cùng thời là Gregory và Innocent IV.
[7] City State: Cổ thời Hylạp, tổ chức quốc gia đầu tiên là những đô thị độc lập (polis), do những làng liên kết thành – Thí dụ nhà nước đô thị (có chỗ dịch là thành quốc) như: Athens, Sparta, Argo, Corinth, Megara.
[8] Alexander the Great- hoàng đế Hylạp, Aristotle vốn là thày dạy riêng (tutor) của ông.
[9] The Stoics – có khi dịch là Khắc kỷ – tôi để nguyên, như trường hợp những nhân danh, địa danh khác, nếu có thể, để trả nó về với từ gốc.
[10] Tương tự, Stoicism vẫn từng dịch là trường phái Khắc kỷ.
[11] Pagans: đây chỉ những người không theo đạo thờ những thần Hylạp (Zeus, Olympian Gods)
[12] CTTG – Quan điểm này không phải là không biết đã có ở những thời trước đó, nó có nhắc, thí dụ, trong kịch Antigone của Sophocles. Nhưng ít có ai giữ quan điểm đó, trước nhóm Stoics.
[13] Apostles: chỉ những (12) người học trò đầu tiên của Jesus, đã đi rao giảng, khai sáng nên đạo Kitô
[14] Arianism: tư tưởng gót học của Arius (ca. AD 250–336), những hoàng đế Lamã Constantius II (337-361) và Valens (364-378) theo giáo lý Arians hay bán-Arians.
Arius sống và dạy ở Alexandria, Egypt, dạy rằng Jesus không cùng một thể với Chúa Cha, phủ nhận tính cách thần linh của Jesus, chỉ cho vị này là sự sáng tạo vĩ đại nhất của Chúa Cha (ngược với tin tưởng chúa ba ngôi về sau và hiện nay)
[15] CTTG –Thế nên dân Nga ngày nay không nghĩ là họ phải tuân theo biện chứng duy vật hơn là theo Stalin.
[16] Tạm dịch từ barbarian – chỉ có nghĩa là không theo, hay không cùng có văn hóa của Lamã (trước đó là của Hylạp), như những dân tộc bắc Âu. Họ không có chữ viết, nên những gì về họ, còn lại đến nay, đều qua ghi chép chọn lọc, phê phán chủ quan của địch thủ là người Roman. Nổi tiếng là Visigoths (đông Âu), Huns (trung Âu), Vandals (bắc Âu).
[17] Johannes Scotus Eriugena (c. 815–877) người Irish, nhà thơ, nhà gót học Kitô, và triết gia theo phái thần bí Plotinus.
[18] Lúc ấy đế quốc Lamã, đóng đô tại Constantinople – đông Âu – gọi là Byzantine Empire.
[19] Justinian's Codes
[20] Đế quốc Lamã (27 BC – 476/1453), có tên gọi vì kinh đô là thành Lamã, nhưng đến năm 286, phân làm hai: đế quốc Tây Lamã – Western Roman Empire (286–476) và đế quốc Đông Lamã – Eastern Roman Empire (330–1453), còn gọi là đế quốc Byzantine.
Phần phía Tây- Tây Lamã gồm Ý, Pháp, bán đảo Siberia, phần nam nước Anh, bắc Phi Địa trung hải (nay là Tunisie, Algerie) – thủ đô là Milan, Ravenna.
Phần phía đông – Đông Lamã – lúc lớn rộng nhất gồm Sicily, Balkan, Hylạp, Bulgaria, Georgia, Turkey, Liban xuống đến hết Ai cập – thủ đô là Constantinople.
Tây Lamã xụp đổ năm 476, nhưng Đông Lamã đến 1453 mới mất khi quân Turk chiếm thành Constantinople, nay là Istanbul.
[21] Những nước trên bờ bắc của Địa trung hải – nam Âu – có truyền thống văn minh Lamã.
[22] Những nước phía bắc Âu – từ nước Đức trở lên đến Scandianvia, Nga (nói tiềng gốc Slavic); so với Nam Âu thì không hay chưa hoàn toàn chịu ành hưởng văn minh Lamã.
[23] Teutonic: chỉ những dân tộc Germanic – bắc Âu
[24] Trial by battle: ai thắng hay sống xót là thắng án kẻ chịu thua hay chết
[25] Tournaments
[26] Courtly love: tình yêu tôn thờ và phụng sự, dâng hiến, giữa môt hiệp sĩ với một phu nhân thường đã có chồng,
[27] Hell: hoả ngục Kitô.
[28] Romance: nghĩa rất rộng, đây chỉ thể loại truyện thơ hay văn xuôi – kể những truyện tình hiệp sĩ, vừa có tính anh hùng ca (epic), vừ có tính lãng mạn (courtly love).
[29] Chivalry: phong cách hiệp sĩ, tinh thần thượng võ, hào hoa phong nhã và lịch sự với phụ nữ.
[30] Friars: gốc nghĩa là “anh”, từ chỉ những tu sĩ Catô, vì họ không giảng đạo, chỉ hoạt động xã hội, giáo dục, ở VN gọi theo tiếng Pháp là “sư huynh” (frère)
[31] Papal philosophy
[32] Đại ly giáo (the Great Schism) hay rõ hơn cuộc chia cắt lớn xảy ra trong nhà thờ Catô (Great Schism của Western Christianity) hay Papal Schism (cũng gọi là Western Schism) tử năm 1378 đến 1417, giữa Pope Urban VI tại Rome và Pope Clement VII tại Avignon.
[33] The conciliar movement (or Conciliarism), vận động cải cách tôn giáo của nhà thờ Kitô Lamã, trong thế kỷ 14 và 15th, định quyền tối thượng về những vấn đề tinh thần thuộc về Hội thánh, nằm trong một hội đồng hội nhà thờ (a general church council), không phải với vị vua chiên nữa.
[34] Christendom: khái niệm văn hoá về một không gian liên quốc gia, mẫu số chung là theo, chịu ảnh hưởng sâu xa đạo Kitô.
[35] Scholastic theory: xem chú thích 41
[36] Pope: vị vua chiên Lamã: Vị đứng đầu hội nhà thờ Catô tại Lamã, vị này cũng là bishop của thành Lamã – trước đây vẫn theo người Tàu dịch là “giáo hoàng”, nhưng trọn vẹn hơn phải là giáo hoàng Lamã (羅馬教皇). Tôi dùng từ bình dân “vua chiên” = vua của những con chiên (dân Chúa), ông trông coi, đứng đầu nước Chúa (thực ra chỉ còn hội nhà thờ Catô Vatican thôi)
[37] Princethuật quân vương – Il Principe (1532) của Niccolò Machiavelli (1469 – 1527), được xem là khai mở môn chính trị học. Tác phẩm nay thành kinh điển – dạy thuật làm chính trị, dựa trên quyền lực, cho những vương hầu châu Âu.
[38] The Borgias hay Borjas dòng dõi quí tộc Ý, trong thời Phục hưng. Ngày nay vẫn đươc nhắc đến vì sự đồi bại nổi tiếng của những người trong dòng họ này, nhất là một người trong họ giữ ngôi vị vua chiên Lamã. Rất nhiều tội ác: ngoại tình, buôn thần bán thánh, trôm cắp, hiếp dâm, hối lộ, loạn luân và giết người (đặc biệt là giết người bằng độc dược)
Rodrigo, một kẻ xảo quyệt nhiều tình nhân kín, được bầu làm vua chiên năm 1492, lấy hiệu Alexander VI. Ông này được biết có rất nhiều con. Trong ấy Lucrezia và Cesare là hai người con có nhiều tai tiếng nhất.
Cesare, con trai – có cha trợ giúp dành ngôi cai trị nước Ý, nổi tiếng tàn nhẫn, được xem như nguồn hứng khởi cho Macchiavelli viết The Prince.
Lucrezia – con gái -nổi tiếng là người đánh thuốc độc.
[39] The Medicis; dòng họ quí tộc lừng lẫy vì giàu có (ngân hàng) và uy quyền, xuất phát từ Florence, nước Ý, nổi tiếng vì đổ rất nhiều của cải vào mỹ thuật, kiến trúc. Về tôn giáo, chỉ riêng dòng này đã lần lượt đưa 4 người vào ngôi vua chiên Catô Lamã: Leo X, Clement VII, Paul V, Leo XI.
[40] Martin Luther (1483 – 1546) khai mở ra cuộc cải cách thành nên đạo Phản thệ – hay TinLành (Protestant Reformation)
[41] Catholic Church: chỉ hội nhà thờ Catô phân biệt và khác với từ Christian – Kitô, chỉ tất cả những hội nhà thờ thờ Christ khác, như Chính Thống, Thệ phản Tin lành, Anh giáo, …
Hội nhà thờ Catô: Gồm Catô Lamã là lớn nhất (Roman Catholic Church) ngoài ra còn có Anglican Catholic, Greek Catholic, Uniate Catholic
[42] Reformation: phong trào tôn giáo ở thế kỷ 16 tại Âu châu, vận động cải cách cả lý thuyết và thực hành của nhà thờ Catô Lamã, kết quả là tạo nên đạo TinLành, hay đạo của những người phản thệ (Protestantism) – theo nghĩa những tín đồ đạo này, phản đối giáo thuyết Catô đã tự cho rằng chỉ của hội Nhà thờ Catô Lamã mới là hội “Thánh”; là hội duy nhất và chân chính của Christ.

[43] Chủ thuyết sola scriptura, chủ trương chính và chỉ Thánh kinh mà thôi, chứ không phải truyền thống của hội nhà thờ hay tăng lữ, là gốc của thẩm quyền tối thượng cho tất cả những người theo Kitô.
[44] Protestantism: đạo TinLành kể những giáo phải nổi tiếng: Lutheranism, Calvinism (cả Reformed churches vàPresbyterianism), Methodism, Baptist churches, và the Seventh-day Adventist Church.
- Người Tàu thường dich là Cơ đốc Tân giáo (基督新教).
[45] scholasticism : chỉ nội dung của hệ thống học vấn giảng dạy gót học và triết lý, có trong nhà thờ Kitô từ thời Trung cổ, là một tổng hợp chủ yếu gót học của Augustine và triết học Aristotle. Nó cố bắc cầu qua vực thẳm phân cách một bên là tôn giáo (tin) và lý trí (chứng).
[46] Heretical
[47] Subjectivism
[48] Nguyên văn: an emanation of the ego
[49] Nguyên văn: this was insanity
[50] common sense: thông thường , bình dị, không có gì phải chuyên môn, thông thường giản dị.
[51] Anabaptism: Ngày nay là những giáo phái Amish, Hutterites, and Mennonites. Họ đặc biệt không đeo nhẫn cưới, thề, và không tham dự vào chính quyền.
[52] Cuộc nổi loạn ở Münster (The Münster Rebellion) những người cực đoan theo giáo phái Anabaptists thiết lập một công xã thần quyền (communal theocracy) tại thành phố Münster, nước Đức trong 18 tháng (1534 – 1535)
[53] Holy Spirit: những tín đồ gọi một cach tôn kính là chúa Thánh thần
[54] Quakerism
[55] Sensibility: mẫm cảm, nhạy cảm tính
[56] Thomas Carlyle (1795-1881): sử gia, luận gia người Scott
[57] George Gordon Byron (1788-1824) nhà thơ nổi tiếng nước Anh, đươc xem là một trong những khuôn mặt dẫn đầu phong trào Lãng mạn châu Âu.
[58] subjectivism: ở đây chỉ chung một khuynh hướng (nhiều trường phái khác nhau) chủ trương kiến thức chỉ có với kinh nghiệm chủ quan trực tiếp (philosophy a theory stating that people can only have knowledge of what they experience directly)
[59] Liberalism
[60] Catholicism: chỉ chung tất cả tin tưởng, lý thuyết, nghi lễ của hội nhà thờ Kitô Lamã, gọi tắt là chủ thuyết, hay hệ tư tưởng Catô.